SKKN Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu học tốt môn Toán ở Lớp 1

Môn Toán lớp 1 mở đường cho trẻ đi vào thế giới kỳ diệu của toán học, rồi mai đây các em lớn lên trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ, trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống và sản xuất, trên tay có máy tính xách tay, nhưng không bao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và tập viết 1, 2, 3....... học các phép tính cộng, trừ các em không thể quên được vì đó là kỉ niệm đẹp đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa những con số, những phép tính đơn giản ấy cần thiết cho suốt cuộc đời của các em.
SKKN:“Mét sè biÖn ph¸p gióp ®ì häc sinh yÕu häc tèt m«n To¸n ë líp 1.”  
PhÇn I  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
I. Lý do chän s¸ng kiÕn:  
Trong xây dựng cơ bản, như khi xây một toà nhà cao tầng hiện đại thì việc  
xử lý móng là hết sức quan trọng, mà nền móng ngôi nhà lại là phần nằm sâu  
trong lòng đất, nên người ta thường chỉ nhìn thấy những tầng cao ở trên; chỉ có  
những người xây dựng, những người có chuyên môn mới thấy rõ tầm quan  
trọng, giá trị đích thực của nó. Bậc Tiểu học cũng được coi như cái nền móng  
của ngôi nhà tri thức kia. Chính vì vậy, điều 2 của lụât phổ cập giáo dục tiểu học  
đã xác định bậc tiểu học là bậc học đầu tiên bậc học nền tảng của hệ thống giáo  
dục quốc dân. Bậc tiểu học đã tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững  
cho các em tiếp tục học các bậc học trên. Nội dung giảng day của tiểu học luôn  
gắn liền với thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộc sống, không chỉ có thế mà  
mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân  
cách học sinh. Trong các môn học, môn toán là một trong những môn có vị trí  
rất quan trọng. Các kiến thức, kỹ năng của môn toán có nhiều ứng dụng trong  
đời sống, giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình dạng không  
gian của thế giới hiện thực. Một trong những nội dung toán đáp ứng được mục  
đích trên đó là đơn vị đo lường. Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học  
kỹ thuật và công nghệ thông tin đã làm cho khả năng nhận thức của trẻ cũng  
vượt trội. Điều đó đã đòi hỏi những nhà nghiên cứu giáo dục luôn luôn phải điều  
chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp với nhận thức của từng đối  
tượng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp  
phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước.  
Môn Toán lớp 1 mở đường cho trẻ đi vào thế giới kỳ diệu của toán học, rồi  
mai đây các em lớn lên trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ, trở  
thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống và sản xuất,  
trên tay có máy tính xách tay, nhưng không bao giờ các em quên được những  
ngày đầu tiên đến trường học đếm và tập viết 1, 2, 3....... học các phép tính cộng,  
trừ các em không thể quên được vì đó là kỉ niệm đẹp đẽ nhất của đời người và  
hơn thế nữa những con số, những phép tính đơn giản ấy cần thiết cho suốt cuộc  
đời của các em.  
Đó cũng là vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên nói chung và giáo  
viên lớp 1 nói riêng. Người giáo viên từ khi chuẩn bị cho tiết dạy đầu tiên đến  
khinghỉ hưu không lúc nào dứt nổi trăn trở về những điều mình dạy và nhất là  
môn Toán lớp 1 là một bộ phận của chương trình môn Toán ở tiểu học. Chương  
1 / 31  
SKKN:“Mét sè biÖn ph¸p gióp ®ì häc sinh yÕu häc tèt m«n To¸n ë líp 1.”  
trình nó kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy Toán lớp 1, nên nó có vai  
trò vô cùng quan trọng không thể thiếu trong mỗi cấp học.  
*Dạy học môn Toán ở lớp 1 nhằm giúp học sinh:  
a. Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm, về  
các số tự nhiên trong phạm vi 100, về độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20, về  
tuần lễ và ngày trong tuần, về giờ đúng trên mặt đồng hồ; về một số hình học  
(Đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về bài toán có lời văn.  
b. Hình thành và rèn luyện các kĩ năng thực hành đọc, viết, đếm, so sánh các số  
trong phạm vi 100; cộng trừ và không nhớ trong phạm vi 100; đo và ước lượng  
độ dài đoạn thẳng( với các số đo là số tự nhiên trong phạm vi 20 cm). Nhận biết  
hình vuông, hình tam giác, hình tròn, đoạn thẳng, điểm, vẽ điểm, đoạn  
thẳng).Giải một số dạng bài toán đơn về cộng trừ bước đầu biết biểu đạt bằng  
lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành, tập so  
sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của  
những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.  
c. Chăm chỉ, tự tin, cẩn thận ham hiểu biết và học sinh có hứng thú học toán.  
Là một người giáo viên trực tiếp dạy lớp 1 và đặc biệt là dạy môn toán, Thực  
hiện chương trình đổi mới giáo dục toán học lớp 1 nói riêng ở tiểu học nói  
chung. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ nhiều để học sinh yÕu, kÐm làm sao làm được  
các phép tính cộng, trừ mà việc giải toán có lời văn thì càng khó hơn đối với học  
sinh lớp 1 nên tôi lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm:“Một số biện pháp giúp  
đỡ học sinh yếu học tốt môn Toán ở lớp 1”.  
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:  
Nhằm thực hiện nội dung, tinh thần của cuộc vận động “ Hai không” mà  
đặc biệt là nội dung “Không để HS ngồi nhầm lớp”, góp phần nâng cao chất  
lượng giáo dục toàn diện, giảm dần HS yếu, đáp ứng nhu cầu giáo dục trong  
giai đoạn hiện nay.  
Góp phần chia sẻ, trao đổi nhằm thực hiện chất lượng hơn công tác phụ  
đạo HS yếu. Giúp HS yếu tự tin, vươn lên trong học tập và có khả năng học  
tập suốt đời.  
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:  
Đối tượng là những häc sinh yếu toán thực sự không có khả năng theo  
kịp kiến thức hoặc bị hạn chế ở một hay nhiều kĩ năng cơ bản. Không có  
khả năng tự thực hiện yêu cầu của bài học. Những HS này cần phải được  
giáo viên quan tâm, giúp đỡ trong thời gian dài và xuyên suốt trong quá  
trình dạy học.  
2 / 31  
SKKN:“Mét sè biÖn ph¸p gióp ®ì häc sinh yÕu häc tèt m«n To¸n ë líp 1.”  
Đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp và quá trình phụ đạo HS yếu  
toán lớp 1 trong năm học 2017 - 2018. Đúc kết thành hệ thống những kinh  
nghiệm dạy học đạt hiệu quả.  
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:  
Trong phạm vi s¸ng kiÕn này tôi đặt ra những nhiệm vụ cụ thể sau:  
- Nghiên cứu những vấn đề vÒ c¸c m¹ch kiÕn thøc vµ t×m ra nh÷ng biÖn ph¸p cô  
thÓ, tèi -u nhÊt gióp häc sinh yÕu cã høng thó ®Ó häc tèt môn Toán lớp 1.  
- Nghiên cứu thực trạng dạy häc sinh yÕu môn Toán lớp 1 của nhà trường trong  
những năm vừa qua.  
- Đề xuất những biện pháp nâng cao chất lượng khi dạy häc sinh yÕu môn Toán  
lớp 1.  
V. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:  
Trong khi thực hiện đề tài tôi sử dụng một số phương pháp sau:  
1. Phương pháp thu thập tài liệu.  
2. Phương pháp điều tra thực nghiệm giáo dục.  
3. Phương pháp quan sát, nghiên cứu sản phẩm.  
4. Phương pháp giao tiếp.  
5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.  
Và một số phương pháp khác.  
VI. thêi gian thùc hiÖn:  
Tõ ngµy 20/ 09/ 2017 ®Õn ngµy 20 / 05 / 2018  
3 / 31  
SKKN:“Mét sè biÖn ph¸p gióp ®ì häc sinh yÕu häc tèt m«n To¸n ë líp 1.”  
PhÇn Ii  
néi dung s¸ng kiÕn kinh nghiÖm  
I.  
C¬ së khoa häc:  
1.Cơ sở lý luận:  
Bậc Tiểu học là tiền đề cơ bản,là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để đào  
tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân tốt,mang trong mình những phẩm  
chất tốt đẹp của con người Việt Nam đó là: Đức - Trí -Thể -Mĩ. Đây còn là  
bậc học nền tảng của hệ thống Giáo dục quốc dân.  
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên nên trong quá trình  
giáo dục ở trường Tiểu học đã hết sức coi trọng việc giáo dục toàn diện cho  
học sinh cả về đức và tài. Để có một con người phát triển toàn diện, những  
nhà làm giáo dục phải thực sự tâm huyết, say mê nghề nghiệp, phải bồi đắp  
cho các em những kiến thức từ điều sơ đẳng, đơn giản nhất. Chính vì vậy,  
bên cạnh việc chú ý bồi dưỡng học sinh giỏi, trường Tiểu học còn hết sức  
coi trọng việc phụ đạo học sinh yếu kém. Bồi lấp cho các em những lỗ hổng  
kiến thức để các em học tiếp các lớp học trên và có hành trang vững chắc  
bước vào đời ngay từ khi các em còn là học sinh lớp 1.  
Mỗi giai đoạn phát triển tâm lý ở trẻ đều được đặc trưng bởi dạng hoạt  
động cơ bản, ở Mẫu Giáo trò chơi là hoạt động chủ đạo, còn đối với học  
sinh lớp 1 học tập là dạng hoạt động chủ đạo. Để tạo được sự ham thích  
trong học tập và đạt được hiệu quả giáo dục, người giáo viên cần nắm được  
dạng hoạt động chủ đạo và những thói quen cần thiết của học sinh khối lớp  
mình phụ trách.  
2. Cơ sở thực tiễn:  
Năm học 2017 – 2018 tôi chủ nhiệm lớp 1C là lớp học hai buổi trên ngày  
tại trường. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi đã khó, xong việc phụ đạo cho học  
sinh yếu kém lại càng khó hơn. Bởi lẽ đa số những em học sinh yếu kém có  
hoàn cảnh gia đình khó khăn, chậm phát triển về trí tuệ, nhận thức chậm.  
Tôi thấy lớp nào cũng có khoảng 5 - 10 em học yếu môn Toán. Đến lớp  
trong giờ học Toán các em chưa nhận dạng ra được số hoặc chưa đếm được  
số từ 1 - 10, mặc dù đó đã là kiến thức ở lớp Mẫu Giáo các em đã được học  
rồi, trong giờ Toán các em học lơ là, nằm dài trên bàn, không tập trung, các  
em thường xuyên không thuộc bài, mỗi khi hướng dẫn các em bài mới thật  
là vất vả, các em rất ham chơi mà các em quên mất là mình đến trường để  
học, bên cạnh những đối tượng này còn có em thiếu tự tin, rụt rè làm ảnh  
hưởng rất nhiều đến việc học tập.  
4 / 31  
SKKN:“Mét sè biÖn ph¸p gióp ®ì häc sinh yÕu häc tèt m«n To¸n ë líp 1.”  
Từ những thực tế nêu trên, tôi suy nghĩ phải làm thế nào để tạo sự hứng  
thú học tập đối với học sinh học yếu môn Toán và ở các môn học khác, giúp  
các em phát triển toàn diện vừa có trí tuệ vừa có thể lực tốt nên trong năm  
học này tôi lưu ý đến học sinh thuộc diện này. Với lòng yêu nghề, mến trẻ  
đã thôi thúc tôi, làm thế nào để đàn em thân yêu của mình học tốt được môn  
Toán, cuối năm không có học sinh yếu kém. Kết quả từ trung bình đến khá –  
giỏi đó chính là lý do tôi chọn đề tài:“Một số biện pháp giúp đỡ học sinh  
yếu học tốt môn Toán ở lớp 1”.  
II. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:  
1.Thuận lợi:  
Được chi Bộ và nhà trường quan tâm giúp đỡ, tôi l¹i ®øng líp cả ngày,  
vì vậy tôi có nhiều thời gian quan tâm hơn, hướng dẫn giáo dục các em và  
có dịp tiếp xúc trao đổi với phụ huynh. Bản thân tôi đã trực tiếp đứng lớp  
nên ít nhiều tích luỹ được kinh nghiệm. Nhiều năm đứng lớp, lớp nào cũng  
có học sinh yếu nên có dịp nắm được cá tính của mỗi em học sinh .  
Học sinh ngoan, biết nghe lời, tinh thần và thái độ học tập tốt, tham gia  
đầy đủ các buổi học phụ đạo. Phần đa các em ở gần trường, các gia đình rất  
quan tâm đến con em mình.  
Cơ sở vật chất nhà trường tương đối đầy đủ thuận lợi cho việc giảng  
dạy.  
2. Khó khăn:  
Trường thuộc vùng nông thôn, đa số là con nông dân. Một số phụ  
huynh học sinh thường xuyên đi làm xa nhà nên không mấy khi quan tâm  
đến việc học của con em mình, thiếu sự quan tâm chăm sóc, nhắc nhở các  
em học tập. Thường tâm lý các em chưa ham học toán, lười tư duy, chưa  
nhận dạng đựơc số, tính toán còn quá chậm.  
Một số em không đủ dụng cụ học tập, sách giáo khoa, vở bài tập toán,  
que tính, bảng con…  
III.thùc tr¹ng vµ nh÷ng nguyªn nh©n:  
1.Thực trạng việc dạy học sinh yÕu m«n to¸n ë líp 1.  
Để tìm hiểu thực trạng dạy học sinh yÕu trong môn Toán đạt hiệu quả, ngay  
từ đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh và thống kê, kết qu¶  
cßn l¹i 8 häc sinh ®¹t ë møc ®é như sau:  
5 / 31  
SKKN:“Mét sè biÖn ph¸p gióp ®ì häc sinh yÕu häc tèt m«n To¸n ë líp 1.”  
§Çu năm học : 2017 – 2018  
Họ và tên học sinh  
Lớp: 1C  
Cuối HKI Cuối HKII  
TT  
1
Đầu năm  
Ch-a hoµn thµnh  
Ch-a hoµn thµnh  
Ch-a hoµn thµnh  
Ch-a hoµn thµnh  
Ch-a hoµn thµnh  
Ch-a hoµn thµnh  
Ch-a hoµn thµnh  
Ch-a hoµn thµnh  
Nguyễn Hoàng Giang  
Nguyễn Văn Tài  
Vũ Thùy Linh  
2
3
4
Hà Thị Thu Hiền  
Nguyễn Thị Lan Anh  
Nguyễn Văn Tuấn  
Nguyễn Thị Kiều  
Nguyễn Văn An  
5
6
7
8
* Nhận xét chung:  
Giáo viên chưa có biện pháp để lập kế hoạch, hướng dẫn phù hợp với học  
sinh, với nội dung chương trình tăng thời lượng, tăng thực hành luyện tập vận  
dụng gắn với đời sống tạo hứng thú tự tin cho học sinh, giáo viên vừa làm vừa  
rút kinh nghiệm, chưa thực sự tự tin, một số ít giáo viên chưa thực sự quan tâm  
đến từng đối tượng học sinh và động viên khuyến khích các em học tập (đối  
tượng học sinh cá biệt), mà các em lại là học sinh Mẫu giáo năm đầu học lớp 1.  
Sự nhận thức của học sinh còn không đồng đều. Một số học sinh chưa chịu  
khó học tập, chủ yếu là học trên lớp, về nhà một số phụ huynh chưa quan tâm  
đến con em mình, ngay cả đồ dùng chuẩn bị cho con học tập còn thiếu. Chính  
những điều đó gây ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh.  
Từ nhiều năm nay nhà trường luôn quan tâm đến việc đổi mới nội dung  
chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học lớp 1, trường luôn  
chủ động tổ chức các chuyên đề, các buổi họp chuyên môn về đổi mới nội dung  
chương trình, đổi mới phương pháp dạy học trong đó môn Toán là một môn học  
chủ lực luôn luôn được bàn tới. Chính vì vậy đội ngũ giáo viên dạy khối lớp 1  
của trường được Ban giám hiệu lựa chọn, chuyên sâu ngay trong năm học đầu  
tiên của chương trình đổi mới đã tổ chức hướng dẫn học sinh tự phát hiện, tự  
giải quyết vấn đề của bài, tự chiếm lĩnh kiến thức mới …(phương pháp dạy học  
bài mới) rất hiệu quả. Thế nhưng một vài giáo viên khối 1 của trường sau khi tổ  
chức hướng dãn để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thì thở phào coi như  
song tiết dạy. Còn phần thực hành luyện tập chẳng qua chỉ để học sinh làm hết  
6 / 31  
SKKN:“Mét sè biÖn ph¸p gióp ®ì häc sinh yÕu häc tèt m«n To¸n ë líp 1.”  
các bài tập trong sách giáo khoa. Chính vì vậy khi Ban giám hiệu dự giờ kết quả  
các tiết dạy toán giáo viên trong khối chưa đạt hiệu quả cao và chất lượng học  
môn Toán của học sinh trong năm học thấp.  
2. Nguyên nhân.  
Giáo viên chưa có biện pháp để lập kế hoạch, hướng dẫn học sinh hợp lý, chưa  
thường xuyên quan tâm đến việc học của học sinh.  
- Nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phần dạy båi d-ìng häc sinh yÕu chưa  
đúng.  
- Khi lập kế hoạch bài soạn, khi lên lớp giáo viên chỉ chú trọng đến việc dạy  
học bài mới, chưa chú ý đến việc củng cố kiến thức cho học sinh.  
- Còn một số ít phụ huynh chưa quan tâm thực sự đến việc học tập của con  
em mình mà còn phó thác cho nhà trường .  
- Qua tìm hiểu thực trạng dạy học phần båi d-ìng häc sinh yÕu môn Toán lớp  
1, tôi thấy còn có hạn chế do đó cần thiết phải tìm ra biện pháp để nâng cao chất  
lượng phần thực hành luyện tập trong nhà trường.  
IV. NỘI DUNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:  
1.Nghiên cứu, tìm hiểu chương trình môn toán mạch đi của SGK.  
Giáo viên cần nắm vững chương trình Toán để có kế hoạch hướng dẫn  
học sinh ở lớp Một: Năm học có 35 tuần, mỗi tuần có 4 tiết toán, nội dung  
môn Toán ở lớp Một trong chương trình Tiểu học do Bộ Giáo Dục và Đào  
Tạo ban hành như sau:  
a. Số học:  
- Các số đến 10. Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 10.  
- Nhận biết quan hệ số lượng (nhiều hơn, ít hơn, bằng nhau).  
- Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 10. Sử dụng các dấu = (bằng),< (bé  
hơn), > (lớn hơn).  
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép cộng.  
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép trừ.  
- Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10.  
- Số 0 trong phép cộng, phép trừ.  
- Mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ.  
- Tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trừ.  
- Các số đến 100. Phép cộng và phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100.  
- Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 100. Giới thiệu hàng chục, hàng đơn vị.  
Giới thiệu tia số.  
7 / 31  
SKKN:“Mét sè biÖn ph¸p gióp ®ì häc sinh yÕu häc tèt m«n To¸n ë líp 1.”  
- Phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100. Tính nhẩm và tính  
viết.  
- Tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trừ (các trường  
hợp đơn giản)  
b. Đại lượng và đo đại lượng.  
- Giới thiệu đơn vị đo độ dài xăngtimet. Đọc, viết, thực hiện phép tính với  
các số đo theo đơn vị đo xăngtimet. Tập đo và ước lượng độ dài.  
- Giới thiệu đơn vị đo thời gian: tuần lễ, ngày trong tuần. Làm quen bước  
đầu với đọc lịch (loại lịch hằng ngày), đọc giờ đúng trên đồng hồ (khi kim  
phút chỉ vào số 12).  
c. Yếu tố hình học.  
- Nhận dạng bước đầu về hình vuông, hình tam giác, hình tròn.  
- Giới thiệu về điểm, điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình; đoạn thẳng.  
- Thực hành vẽ đoạn thẳng, vẽ hình trên giấy kẻ ô vuông; gấp, ghép hình…  
d. Giải toán có lời văn.  
- Giới thiệu bài toán có lời văn.  
- Giải các bài toán đơn bằng một phép cộng hoặc một phép trừ, chủ yếu là  
các bài toán thêm, bớt một số đơn vị.  
2. Nắm được đặc điểm tâm lý và phát triển của học sinh học yếu môn  
Toán.  
Với kinh nghiệm đã nhiều năm dạy lớp Một, bản thân chúng tôi nhận thấy  
đặc điểm tâm lý của trẻ em ở lứa tuổi này dễ chịu sự tác động ý chí trực tiếp  
bên ngoài, các em rất nhút nhát, thiếu tự tin, không dám phát biểu, tôi luôn  
phải mất thời gian để trò chuyện gần gũi động viên tinh thần các em, để em  
cảm thấy cô giáo rất thương mình, quan tâm đến mình nhiều hơn các bạn.  
Bác Hồ đã nói: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà  
nên”. Ở lứa tuổi học sinh nhỏ là các em sẵn lòng tin vào thầy cô, nhất nhất  
nghe theo trong lời căn dặn của thầy cô. Chính vì ở các lớp Tiểu học, học  
sinh còn gắn liền môn học với người thầy, người cô đã dạy dỗ các em, cho  
nên nếu các em yêu mến thầy, cô thì việc học tập do thầy cô hướng dẫn cũng  
lôi cuốn các em và làm cho các em yêu thích ,mà muốn các em yêu mến thì  
nhân cách của người thầy người cô có tác động giáo dục hết sức mạnh mẽ.  
Lớp 1 là bước đầu chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học  
tập.Vào trường học các em phải tiếp xúc với những công việc đòi hỏi có  
trách nhiệm và bắt buộc phải làm, mặc dù những công việc này khó khăn. Ở  
đây đôi khi các em phải khắc phục tình trạng mệt mỏi, không ham thích và  
phải nỗ lực ý chí, nhiệm vụ của người thầy, người cô là làm cho trẻ chuyển  
từ nếp sống trước tuổi học sang hoạt động học tập một cách thoải mái và  
8 / 31  
SKKN:“Mét sè biÖn ph¸p gióp ®ì häc sinh yÕu häc tèt m«n To¸n ë líp 1.”  
vừa sức, chú ý đến các khả năng của các em đồng thời giải thích cho các em  
thấy rõ vị trí và nhiệm vụ mới của mình, nhưng phải thực sự tế nhị và phải  
có lòng yêu nghề mến trẻ.  
3. Phân loại vµ biÖn ph¸p kh¾c phôc học sinh học yếu môn Toán.  
a. Học sinh chưa nắm được khái niệm số từ 1 - 100.  
Những em này ghi nhớ rất kém vì mối liên hệ có điều kiện được hình  
thành rất chậm và không bền vững. Các em chậm hiểu lại mau quên, các em  
không có khả năng ghi nhớ ngay sau khi học, em chỉ nhớ những gì đơn giản  
dễ hiểu. Trí nhớ kém khả năng chú ý không có vì thế việc học gặp nhiều  
khó khăn, từ đó mà các em không thích học.  
- Đối với diện này, tôi dạy các em nhớ từ số, dấu, qua cách luyện đọc và  
luyện nghe và quan sát như sau:  
- Khi xếp hàng vào lớp em thứ nhất số mấy, hàng nào, buộc em đó phải nhớ  
vị trí xếp hàng.  
- Xếp theo thứ tự từ 1 - 10, cho xếp thuận rồi xếp ngược, cho em quay mặt  
đi, đảo một vài số rồi hỏi em đã thay đổi vị trí số nào so với lúc đầu. Chúng  
tôi còn luyện em nhớ tên các bạn trong lớp. Để tránh học vẹt mỗi khi học  
bài mới. Tôi luôn kiểm tra bài cũ, chỉ không thứ tự các bài trước để giúp em  
củng cố kiến thức, khi xếp chỗ ngồi tôi xếp cạnh em ngồi học giỏi để giúp  
truy bài cho em vào đầu giờ.  
- Trong khi dạy bài mới tôi thường xuyên gọi em trả lời, động viên em phát  
biểu, mặc dù em không hề giơ tay, cuối giờ để khắc sâu kiến thức bài học,  
tôi tổ chức cho các em vui chơi và có những em học yếu cùng thực hiện trò  
chơi  
Ví dụ: Sử dụng bộ đồ dùng học toán, tranh ảnh, chữ số.  
Khi dạy bài số 8, để hình thành biểu tượng về số 8 sau khi hướng dẫn  
học sinh tranh vẽ như sách giáo khoa, chúng tôi yêu cầu học sinh đính 7  
hình vuông sau đó thêm 1 hình vuông nữa. Từ đó học sinh sẽ tự kết luận 7  
hình vuông thêm 1 hình vuông là 8 hình vuông.  
- Học sinh đính tiếp 7 hình tam giác thêm 1 hình tam giác và kết luận 7 hình  
tam giác thêm 1 hình tam giác là 8 hình tam giác.  
- Học sinh đính tiếp 7 hình tròn và thêm 1 hình tròn và kết luận 7 hình tròn  
thêm 1 hình tròn là 8 hình tròn.  
- Học sinh lấy 7 que tính thêm 1 que tính và kết luận là 7 que tính thêm 1  
que tính là 8 que tính.  
- Từ đó học sinh hình thành biểu tượng về số 8. Tiếp theo yêu chúng tôi yêu  
cầu học sinh tìm những số 8 trong hộp đồ dùng học tập toán của học sinh để  
đính vào bảng cài và viết số 8 vào bảng con.  
9 / 31  
SKKN:“Mét sè biÖn ph¸p gióp ®ì häc sinh yÕu häc tèt m«n To¸n ë líp 1.”  
- Tôi đọc số 8 thì các em đính vào bảng cài số 8 hoặc là tôi đọc 8 con bướm  
thì các em đính vào bảng cài 8 con bướm, tôi lưu ý các đối tượng học yếu  
xem các em có thực hiện đúng không và có biện pháp sửa chữa kịp thời.  
- Tôi thực hiện tiếp trò chơi làm cho bằng 8.  
Ví dụ: Khi dạy bài số 8, củng cố về dấu = tôi tổ chức cho các em chơi “trò  
chơi làm cho bằng 8”.  
1. Mục đích: Củng cố khái niệm số 8, nắm vững cấu tạo số 8, rèn  
luyện khả năng quan sát, sự khéo léo, nhanh nhẹn.  
2.Chuẩn bị: Nếu định chơi thi đua giữa các cá nhân trong lớp thì giáo  
viên chuẩn bị vẽ vào giấy khổ A4 để phôtocopy cho đủ theo số học sinh của  
lớp. Nếu chơi theo đội thì chỉ cần cắt sẵn cho mỗi đội một bộ gồm: 8 hình  
vuông, 8 lá cờ, 8 bông hoa, 8 đồng hồ, 8 tam giác, 8 ô tô, 8 phong thư ,8  
ngôi sao và một hình vẽ như sau:  
  
  
  
  
    
   
  
  
8
    
   
   
3.Cách chơi: Chơi cả lớp, Giáo viên sẽ phát cho mỗi bạn một tờ phôtôcopy  
và yêu cầu vẽ tiếp vào các ô (xung quanh số 8) sao cho trong mỗi ô có đủ 8  
hình. Bạn nào xong sớm nhất, vẽ và tô đẹp thì thắng cuộc.  
Nếu chơi theo đội thi đua thì ở dưới lớp cổ vũ; 5 bạn ở mỗi đội cần tập  
trung dán tiếp các hình vào từng ô sao cho đủ 8 hình ở mỗi ô. Đội nào dán  
10 / 31  

Tải về để xem bản đầy đủ

docx 32 trang huongnguyen 28/10/2024 6740
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu học tốt môn Toán ở Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxmot_so_bien_phap_giup_do_hoc_sinh_yeu_hoc_tot_mon_toan_o_lop.docx