SKKN Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh Trung học cơ sở

Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học phổ biến nhất thường được giáo viên vận dụng trong quá trình dạy học. Dạy học theo phương pháp thuyết trình được hiểu là giáo viên trình bày bài giảng trên lớp, bằng cách:
- Giới thiệu khái quát chủ đề.
- Giải thích các điểm chính của bài.
- Giao bài tập cho học sinh.
Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học “một chiều”. Tuy nhiên giáo viên không nên sử dụng quá thường xuyên phương pháp này mà phải kết hợp với các phương pháp khác để học sinh tham gia tích cực hơn vào quá trình dạy học.
UBND QUẬN ĐỐNG ĐA  
TRƯỜNG THCS TRUNG PHỤNG  
-----------------------  
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM  
MỘT SỐ BIỆN PHÁP  
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC  
SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ  
Lĩnh vực/ Môn: Giáo Dục Công Dân  
Tên tác giả: Phùng Thu Hằng  
Giáo viên môn: Văn - GDCD  
NĂM HỌC 2013 - 2014  
MỤC LỤC  
I. MỞ ĐẦU  
Trang  
1. Lí do chọn đề tài…………………………………………….. 2  
2. Mục đích nghiên cứu ………………………………………… 2  
3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………… 2  
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………2  
5. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………….3  
II. NỘI DUNG  
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN TUỔI VỊ THÀNH NIÊN  
1.1. Tuổi vị thành niên và những đặc điểm cơ bản…………………3  
1.2. Sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên ………………………….5  
2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SKSS CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG THCS TRUNG PHỤNG  
2.1. Vài nét khái quát về trường THCS Trung Phụng……………….6  
2.2. Những việc đã làm và chưa làm trong công tác giáo dục SKSS VTN  
tại trường THCS Trung Phụng ………………………………………………..6  
3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC SKSS  
CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG  
3.1. Các nguyên tắc ……………… …………………………………10  
3.2. Các phương pháp ………………………………………………..10  
3.3. Cách tổ chức thực hiện …………………………………………..16  
3.4. Kết quả nhận thức của học sinh trường THCS Trung Phụng về vấn đề  
giáo dục SKSS VTN .................................................................................................18  
III. KẾT LUẬN  
1. Kết luận………………………………………………………..21  
2. Khuyến nghị …………………………………………………..22  
1
I. MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
1.1 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “ Nâng  
cao dân trí, bồi dưỡng nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết  
định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.  
1.2 Quả thật, vấn đề con người luôn là mối quan tâm hàng đầu của xã hội. Và  
thanh thiếu niên chính là một lực lượng to lớn, nòng cốt trong việc thực hiện bất cứ  
một nhiệm vụ chiến lược nào.  
1.3 Nhưng thực tế cho thấy, lực lượng thanh thiếu niên ở nước ta đang đứng  
trước rất nhiều những khó khăn, thử thách, mà nếu không được quan tâm giải quyết  
sẽ để lại những hậu quả hết sức nặng nề.  
1.4 Một trong số những khó khăn ấy chính là thực trạng thanh thiếu niên quan  
hệ tình dục sớm dẫn đến mang thai ngoài ý muốn, lây nhiễm các bệnh qua đường  
tình dục, nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên ngày càng gia tăng.  
Nguyên nhân của tình trạng trên là do các em thiếu những hiểu biết cần thiết  
về cơ thể, về giới tính, về sức khỏe sinh sản.  
1.5 Bên cạnh đó, trường THCS Trung Phụng là một ngôi trường nhỏ, nằm sâu  
trong Ngõ chợ Khâm Thiên. Nơi đây dân cư tập trung rất đông nhưng chủ yếu là  
người ở các tỉnh khác về làm ăn sinh sống. Chính vì thế có thể nói đây là địa bàn có  
mức độ phức tạp cao trong tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống.  
Đời sống dân trên địa bàn còn rất nghèo nàn, lạc hậu; người dân lo đối diện với  
gánh nặng cơm áo gạo tiền nên việc quan tâm đến giáo dục là rất ít và việc giáo dục  
SKSS cho con cái đối với họ là một điều rất xa vời.  
Trường học lại nằm sát cạnh nhà dân; có thể nói ra khỏi cánh cổng trường là  
một thế giới hoàn toàn khác xa với khung cảnh sư phạm cũng như sự mô phạm mà  
nhà trường đã cố tạo dựng.  
1.6 Thiết nghĩ trong địa bàn như thế này thì nhà trường chính là đối tượng có  
vai trò quan trọng hàng đầu trong việc giáo dục những hiểu biết về SKSS cho các  
em.Vậy làm thế nào để nâng cao nhận thức cho các em về SKSS là điều rất đáng  
quan tâm.  
Hơn nữa, là một giáo viên có chuyên ngành Văn- GDCD, nhiều năm gắn bó  
với học sinh ở đây, tận mắt chứng kiến những hậu quả mà học sinh các lứa trước của  
mình phải gánh chịu do thiếu hiểu biết về SKSS khiến bản thân luôn trăn trở, suy tư.  
Vì lẽ đó tôi mạnh dạn tìm hiểu “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng  
giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh Trung học cơ sở” một mặt để nâng cao tầm  
quan trọng của nhà trường trong công tác giáo dục này; mặt khác, quan trọng hơn là  
để hạn chế những hậu quả do thiếu hiểu biết về SKSS mang đến cho các em và cho  
xã hội.  
2. Mục đích  
Nghiên cứu ảnh hưởng của giáo dục nhà trường (GDNT) tới nhận thức của  
học sinh (HS) về SKSS, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần  
nâng cao hiệu quả công tác giáo dục SKSS cho HS trong nhà trường THCS  
3. Đối tượng nghiên cứu  
- Các biện pháp giáo dục SKSS cho học sinh THCS  
4. Phương pháp nghiên cứu  
2
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận  
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, điều tra, khảo nghiệm,  
xử lí số liệu, phân tích sư phạm  
- Nhóm phương pháp xử lí số liệu và phân tích sư phạm  
5. Phạm vi nghiên cứu  
Thực trạng việc giáo dục SKSS cho học sinh lơp 9 tại trường THCS Trung Phụng  
và mức độ nhận thức của học sinh về vấn đề này từ tháng 9-2013 -> 3-2014  
II.NỘI DUNG  
1. MỐT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN  
TUỔI VỊ THÀNH NIÊN.  
1.1 Tuổi vị thành niên và những đặc điểm cơ bản  
1.1.1 Khái niệm tuổi vị thành niên  
VTN là một giai đoạn trong quá trình phát triển của con người (bao gồm  
cả hai giới: giới nam và giới nữ), với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trưởng  
mạnh mẽ để đạt đến sự trưởng thành về cơ thể, sự tích luỹ kiến thức kinh  
nghiệm xã hội,  
đ
ịnh hình nhân cách, khả năng hoà nhập cộng đồng. Giai đoạn  
này được hiểu một cách đơn giản là giai đoạn “sau trẻ con và trước người  
lớn”, là giai đoạn trung gian, chuyển tiếp giữa tuổi ấu thơ và tuổi trưởng thành của  
mỗi cá thể được gọi là “Thời kì VTN”.  
Thuật ngữ Adolescent (VTN) xuất hiện từ năm 1904 theo đề xuất của  
nhà tâm lý học G.Stanlay Hal, dùng để chỉ quan niệm đồng nghĩa với tuổi  
đang lớn hoặc tuổi trưởng thành. Theo từ điển tiếng Việt ( NXB khoa học và xã  
hội - Hà Nội 1997) thì “VTN là những người chưa đến tuổi trưởng thành để  
chịu trách nhiệm về những hành động của mình”. Trong các văn bản hiện hành  
của nhà nước ta như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động có sử dụng  
thuật ngữ “Người chưa thành niên” và có quy định rõ hơn về độ tuổi, mức độ mà  
người “chưa thành niên” phải chịu trách nhiệm đối với hành động của mình.  
Theo quy ước của Tổ chức Y tế thế giới (WHO):  
Vị thành niên là người chưa trưởng thành độ tuổi 10 - 19.  
Sựquiđịnhtuổivịthành niêntrênđược phânthànhcác giaiđoạn nhỏ nhưsau:  
- Giai đoạn đầu vị thành niên (10 - 13)  
- Giai đoạn giữa vị thành niên (14 - 16)  
- Giai đoạn cuối vị thành niên (17 - 19)  
Sự phân chia các giai đoạn như vậy là dựa trên sự phát triển thể chất,  
tâm lý xã hội của từng thời kỳ. Song sự phân chia đó chỉ là tương đối, vì trong  
thực tế, yếu tố tâm sinh lý, phát triển thể lực của mỗi người lại có những đặc  
điểm riêng biệt không hoàn toàn theo đúng như sự phân định.  
Tuy nhiên, luật hôn nhân và gia đình ở các nước khác nhau có qui định  
về tuổi vị thành niên khác nhau. Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình thực tế và  
dựa theo cách phân loại trên, Vụ Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em và KHHGĐ  
thuộc Bộ Y tế đã đề nghị tuổi VTN nên xếp thành 2 nhóm tuổi:  
- Nhóm từ 10 - 14 tuổi  
- Nhóm từ 15 - 19 tuổi  
Do mục đích nghiên cứu của đề tài, ở tôi chỉ nghiên cứu nhóm VTN là học  
3
sinh THCS (tập trung ở nhóm tuổi 10-15 ), chúng tôi dùng thuật ngữ “Vị thành niên”  
để chỉ nhóm đốitượng là học sinh THCS  
1.1.2 Đặc điểm  
Thời kỳ VTN, cơ thể của cả nam và nữ đều có những thay đổi nhanh  
chóng cả về tâm lý,  
lên là hiện tượng dậy thì. Đó là thời kì đặc biệt có những  
mạnh mẽ về tâm, inh lý, đánh dấu giai đoạn hình thành giới tính, đồng thời với  
s
inh lý và cơ thể. Nhìn chung đặc điểm quan trọng nhất nổi  
b
iến đổi đột ngột,  
s
sự phát triển hoàn thiện của cơ thể, xuất hiện những biến đổi trong tâm tư, tình  
cảm, sự suy nghĩ của mỗi người.  
Thời kỳ VTN là giai đoạn đang lớn, dậy thì và có sự trưởng thành về  
giới. VTN trải qua những biến đổi sinh học cả bên trong và bên ngoài kéo  
theo những biến đổi về tâm lý và khả năng nhận thức đó là những biến đổi  
nhanh về vóc dáng cơ thể, tăng hoạt động của các tuyến nội tiết trong đó có  
buồng trứng và tinh hoàn, sự phát triển của não ở cả hai giới. Trước hết là sự đột  
biến về chiều cao và hình dáng cơ thể. Do sự phát triển nhanh của các xương  
dài ở chân và tay nên chiều cao tăng nhanh ở tuổi VTN. Mức độ tăng chiều cao  
có sự khác nhau giữa nam và nữ do thời kỳ dậy thì xảy ra ở độ tuổi khác nhau.  
Sự đột biến về cân nặng, chiều cao và sự dậy thì thường đến sớm hơn ở các em  
gái.  
Do có sự đột biến về chiều cao và cân nặng nên thời kỳ này các em đã  
không còn giữ lại dáng vẻ trẻ con nữa. Giữa các phần của cơ thể như thân  
mình, chân tay, vai có tỷ lệ cân đối hơn, ở các em gái bắt đầu có sự tích mỡ  
ở
ngực, hông, đằng sau vai tạo nên dáng vẻ mềm mại, nữ tính. Các em trai có sự  
phát triển và tích tụ khối cơ làm cho thân thể trở nên cường tráng. Đến cuối  
tuổi dậy thì các em đã trở thành những chàng trai và thiếu nữ với những vóc  
dáng, khả năng thể chất và sức mạnh khác nhau.  
Cùng với sự biến đổi chiều cao và cân nặng, cơ thể các em nam, nữ ở độ  
tuổi dậy thì còn có một số biến đổi như: lông mu bắt đầu xuất hiện ở cả hai  
giới. Hệ lông bắt đầu phát triển chủ yếu là lông ngực, lông nách, lông tay  
chân và râu ria ở các em nam. Ở nữ, ngực chớm nở lúc 8 tuổi và tiếp tục phát  
triển cho tới 13 - 18 tuổi. Các cơ quan chửa đẻ phát triển mạnh đến mức hoàn  
chỉnh. Trước hết là hai buồng trứng và dạ con. Buồng trứng tiết ra hoóc môn  
sinh dục chính của nữ là estrogen và progesteron. Kinh nguyệt xuất hiện trong  
khoảng từ 9 - 18 tuổi. Ở Việt Nam, trung bình tuổi có kinh bắt đầu vào  
khoảng 13 - 14 tuổi. Ở các em nam, dương vật và tinh hoàn cũng phát triển  
mạnh và đạt mức hoàn chỉnh vào khoảng 14 - 18 tuổi. Tinh hoàn tiết ra hoóc  
môn sinh dục chính của nam là testosteron. Lần xuất tinh đầu tiên thường vào  
khoảng 15 - 16 tuổi. Các tuyến mồ hôi và chất nhờn trên da được khởi động tạo  
ra mụn trứng cá và mùi đặc trưng cho từng cá nhân.  
Như vậy, tuổi dậy thì là cái mốc đánh dấu sự trưởng thành về mặt sinh  
học trong cơ thể VTN. Những thay đổi về cơ thể, hình dáng, đặc biệt là cơ  
quan sinh dục làm phân  
b
iệt rõ giới tính nam hay nữ và VTN bắt đầu có khả  
năng inh sản nếu có sinh hoạt tình dục, SKSS của VTN lúc này đứng trước  
s
nhiều mối đe doạ. Nếu không được hướng dẫn, chăm sóc một cách đúng đắn, hai  
nguy cơ ảnh hưởng lớn nhất đến SKSS của VTN là tình trạng có thai sớm và tình  
4
trạng nhiễm BLTQĐTD do các hành vi QHTD không được hướng dẫn hay kiểm  
soát.  
Tuổi VTN là thời kì phát triển đặc biệt, thời kì lớn lên và trưởng thành  
của trẻ em để trở thành người lớn. Thời kì này xảy ra hàng loạt những thay đổi  
như sự lớn lên của cơ thể, sự biến đổi về tâm lý và các mối quan hệ xã hội.  
Ngày nay VTN được thừa hưởng nhiều yếu tố thuận lợi trong cuộc sống để phát  
triển thể chất, tinh thần, xã hội song thế hệ trẻ cũng phải đương đầu với hàng  
loạt các khó khăn thách thức:  
- Tuổi dậy thì của các em đến sớm hơn, dài hơn.  
- Nhu cầu tình dục trước hôn nhân nhiều hơn, phổ biến hơn.  
- Nhiều em gái có thai ngoài ý muốn, phải phá thai, bỏ học.  
- Nhiều em trai em gái ở nông thôn ra đô thị với hi vọng có được việc  
làm, cuộc sống dễ chịu trong khi không có nghề nghiệp, nhà cửa nên dễ bị  
lạm dụng tình dục.  
- Cha mẹ của VTN quá bận tâm với công việc không có thời gian hoặc ít  
chú ý tới giáo dục nhân cách, đôi khi họ ngại ngùng, né tránh giáo dục tình  
dục cho con.  
- Nhà trường, các đoàn thể liên quan chưa có sự phối hợp thống nhất đưa  
giáo dục giới tính vào trong nhà trường.  
- Các bạn trẻ thích khám phá điều mới, thích có một lối sống hiện đại  
trong khi các kĩ năng sống cơ bản lại chưa được chuẩn bị.  
- Các dịch vụ chăm sóc SKSS VTN chưa được quan tâm và đầu tư đúng  
mức.  
Vấn đề bình đẳng giới, tảo hôn trong quan niệm xã hội vẫn chưa được  
cải thiện nhiều.  
Từ những yếu tố thách thức trên các bậc cha mẹ, người lớn và bản  
thân vị thành niên cần  
p
hải  
b
iết rõ những thay đổi về thể chất,  
s
inh lý, tâm lý  
trong giai đoạn có nhiều  
b
iến động to lớn này để có thể chủ động đối phó  
và nhà trường có vai trò đặc biệt to lớn để giúp đỡ các em về vấn đề này để các em  
được sống trọn vẹn trong giai đoạn tuổi hồng đẹp- tuổi trăng rằm đẹp nhất này.  
1.2. Sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên  
SKSS VTN là những nội dung về SKSS liên quan, tương ứng với lứa  
tuổi của VTN. SKSS VTN là một trong những nội dung quan trọng của  
SKSS. Cách đây không lâu, người ta vẫn quan niệm vấn đề SKSS chỉ liên  
quan đến các cặp vợ chồng ở độ tuổi inh đẻ. Nhưng thực tế lại không phải  
s
như vậy, thanh niên chưa lập gia đình cũng đã có quan hệ tình dục vì vậy các vấn  
đề trong SKSS nói chung cũng là các vấn đề của SKSS VTN nhưng được ứng  
dụng cho phù hợp với VTN. Đối với VTN, người ta quan tâm đến các nội dung  
sau đây:  
- Sự phát triển tâm, sinh lý tuổi dậy thì  
- Tình bạn, tình yêu, hôn nhân  
- Tình dục, tình dục an toàn, tình dục lành mạnh  
- Phòng tránh thai, phá thai an toàn, phòng tránh xâm hại tình dục  
- Phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường  
qua đường tình dục (kể cả HIV/AIDS)  
s
inh sản, bệnh lây truyền  
5
- Quyền được chăm sóc SKSS  
2. THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC SKSS VTN TẠI TRƯỜNG THCS  
TRUNG PHỤNG  
2.1. Vài nét về trường THCS Trung Phụng  
Trường THCS Trung Phụng THPT là một trường nằm sâu trong ngõ  
chợ Khâm Thiên , mặc dù có nhiều khó khăn về đội ngũ, cơ sở vật chất nhưng  
được sự chỉ đạo sát sao của phòng giáo dục và đào tạo Quận Đống Đa, sự quan  
tâm lãnh đạo cuả các cấp uỷ và chính quyền địa phương, sự ủng hộ nhiều mặt  
của các cơ quan đoàn thể và nhân dân trên ịa bàn cùng với sự nỗ lực không  
đ
ngừng của thầy và trò, trong những năm gần đây nhà trường đã đạt thành tích  
xuất sắc trong việc dạy và học. Trường có 8 lớp với tổng số HS của trường năm  
học 2012- 2013 là gần 200 học sinh.  
HS của trường đều được giáo dục một cách toàn diện, có nề nếp, kỉ cương  
học đường tốt. Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, có tâm huyết trong công tác giảng dạy  
và giáo dục đạo đức HS.  
2.2. Những việc đã làm và chưa làm được trong công tác giáo dục  
SKSS VTN tại trường THCS Trung Phụng  
Đại đa số các thầy cô 32/35 (91,4%) đưa ra quan điểm là giáo dục SKSS  
VTN nhằm “cung cấp kiến thức giúp HS có được những hiểu biết về các vấn đề  
liên quan đến SKSS phù hợp với lứa tuổi các em, giúp các em tự biết chăm sóc  
bản thân, phòng tránh suy nghĩ hành động thiếu lành mạnh và có đượcSố cán  
bộ, giáo viên còn lại thì cho rằng “cung cấp thông tin, xây dựng kỹ năng sống,  
cung cấp các dịch vụ và tư vấn thích hợp cho lứa tuổi này” chính là mục tiêu của  
giáo dục SKSS VTN trong nhà trường.  
Có giáo viên phụ trách bộ môn lại nhấn mạnh về mục tiêu giáo dục  
SKSS VTN qua môn học mình phụ trách. Ví dụ: có 2 giáo viên giảng dạy  
Sinh học cho rằng giáo dục SKSS VTN giúp HS có kiến thức về cơ sở khoa học  
của biện pháp tránh thai đặc biệt là các biện pháp tránh thai hiện đại, có thái độ  
chấp nhận không inh hoạt tình dục sớm, không kết hôn sớm, phòng tránh các  
s
bệnh lây truyền qua đường tình dục”. Một giáo viên dạy Văn lại nhấn mạnh:  
“Giáo dục SKSS VTN giúp HS có hiểu biết về cuộc sống và các mối quan hệ  
tình cảm (gia đình, bạn bè, cộng đồng), biết ứng xử chân thành, nhân ái với mọi  
người…”. Hay có giáo viên  
Giáo dục công dân có ý kiến “Giúp HS biết bảo vệ  
và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của một người công dân, có kỹ năng tổ  
chức và rèn luyện để có hành vi, phù hợp với các chuẩn mực xã hội và thực  
hành trách nhiệm công dân…”  
Như vậy, qua kết quả trên có thể thấy: Các cán bộ, giáo viên trường  
THCS Trung Phụng nhận thức khá rõ về mục tiêu của giáo dục SKSS trong  
nhà trường THCS. Việc nhận thức rõ về mục tiêu giúp cho việc triển khai  
thực hiện công tác này trong nhà trường được hiệu quả hơn góp phần giải  
quyết những vấn đề SKSS và tình dục của VTN hiện nay và về sau.  
Công tác giáo dục SKSS trong nhà trường đã được thực hiện chủ yếu là:  
“Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về SKSS VTN” (100% tại các khối lớp trên  
cơ sở giờ dậy mẫu của cô giáo Phùng Thu Hằng tại lớp 9ª.).  
Việc “lồng ghép, tích hợp giáo dục SKSS VTN vào nội dung các môn  
6
học, lồng ghép giáo dục SKSS VTN vào nội dung tổ chức HĐGDNGLL”, đặc biệt  
là “đưa nội dung giáo dục SKSS VTN vào giờ sinh hoạt lớp” được thực hiện  
còn rất hạn chế.  
Riêng việc “mời các chuyên gia y tế, tâm lý về nói chuyện và trao đổi với  
học sinh” chưa được thực hiện bao giờ được 100% thầy cô đề xuất sẽ thực  
hiện trong thời gian tới trong điều kiện có thể.  
Việc “biên soạn thêm tài liệu học tập” được 14,3% thầy cô (là các thầy cô  
trẻ mới ra trường) dự định sẽ thực hiện trong thời gian về sau.  
Trong đó có 5GV (14.3%) cho rằng không thể thực hiện lồng ghép, tích hợp  
giáo dục SKSS VTN vào nội dung môn học vì môn học mình phụ trách (Toán,  
Lịch sử, Hoá học, Vật lý…) không có nội dung liên quan để thực hiện lồng ghép,  
tích hợp.  
Để nhận thức rõ hơn về vấn đề giáo dục SKSS trong nhà trường, người viết  
mạnh dạn làm một số phiếu điều tra( với học sinh lớp 9) và có được kết quả như sau:  
1.Bảng kết quả HS đánh giá mức độ cần thiết của một số chủ đề về SKSS  
đối với bản thân mình  
Đơn vị:%  
Chủ đề  
Rất cân thiết  
Cần thiết  
13  
Không cần thiết  
1.4  
0
18.6  
0
1
2
3
4
5
6
6.7  
5.4  
3.6  
1.6  
1.6  
2.5  
5.1  
0
8.6  
1.6  
1
2.3  
11  
3.6  
0.5  
11.9  
7
Ghi chú  
:
1.Tình bạn, tình bạn khác giới  
2. Tình yêu, tình dục  
3. Phòng tránh mang thai, nạo phá thai ở tuổi VTN  
4. Phòng tránh các bệnh lây theo đường tình dục và HIV/AIDS - Rất cần  
thiết:  
5. Phòng tránh xâm hại, lạm dụng tình dục VTN  
6. Không kết hôn sớm  
7. Quyền được chăm sóc SKS  
Bảng 2: Nhận thức của HS về vai trò của giáo dục SKSS  
Vai trò  
Khối 9  
31.2  
1
2
3
10.8  
16.6  
7
4
5
6
15.4  
17.5  
8.4  
Ghi chú:  
1. Giúp HS có nhận thức đúng về vấn đề SKSS  
2. Giúp HS có cách ứng xửđúngđắn trong tìnhbạn, tìnhyêu, hôn nhân gia đình  
3. Giúp HS có hiểu biết về các BLTQĐTD và cách phòng tránh  
4. Giúp HS hiểu về các vấn đề về tình dục và quan hệ tình dục  
5. Giúp HS có nhận thức đúng, có thái độ tình cảm và hành vi phù hợp về  
vấn đề SKSS  
6. Giúp HS có nhận thức đúng về QHTD an toàn và có trách nhiệm  
Bảng 3. Nhận thức của học sinh về các biện pháp phòng tránh thai  
Biện pháp  
Biết sử dụng  
Có nghe nói đến  
Không biết  
1
2
x
x
3
x
4
5
6
7
8
9
10  
x
x
x
x
x
x
x
11  
12  
x
x
Ghi chú  
:
1. Triệt sản nữ  
2. Tính vòng kinh  
3. Bao cao su  
4. Xuất tinh ngoài âm đạo  
5. Vòng tránh thai  
6. Viên thuốc tránh thai khẩn cấp  
7. Thuốc tiêm tránh thai DMPA  
8
8. Thuốc diệt tinh trùng  
9. Thuốc cấy tránh thai  
10. Màng ngăn âm đạo  
11. Viên thuốc tránh thai đơn thuần  
12. Triệt sản nam  
Với câu hỏi: “Mức độ hiểu biết của em về các biện pháp tránh thai  
được đánh giá ở 3 mức độ “Biết sử dụng”, “Có nghe nói đến” và “Không biết”.  
Kết quả thu được như sau:  
- Biết sử dụng  
Số HS biết sử dụng các biện pháp tránh thai chiếm 22.3%  
Nhóm biện pháp tránh thai các em  
b
iết nhiều nhất là những biện pháp: triệt  
sản nữ (42.8%), sử dụng bao cao su (36.3%), tính vòng kinh (35.3%).  
Tỷ lệ HS biết cách sử dụng các biện pháp tránh thai nhìn chung tương đối  
thấp, thậm chí ở một số biện pháp còn rất thấp như: Viên thuốc tránh thai kết  
hợp (3.2%), triệt sản nam (8.2%).  
- Có nghe nói đến  
Số HS có nghe nói đến các biện pháp tránh thai chiếm tỷ lệ khá cao  
(29.2%).Biết cách sử dụng và có nghe nói đến khác nhau rất xa. Có nghe nói  
đến có thể chỉ dừng lại ở biết tên các biện pháp còn sử dụng thế nào và tác  
dụng của chúng ra sao thì không biết: Vòng tránh thai (47.6%), viên thuốc tránh  
thai khẩn cấp (46.8%), xuất tinh ngoài âm đạo (39.1%).  
- Không biết  
Số HS không biết về các biện pháp tránh thai chiếm tỷ lệ nhiều nhất  
(48.6%). Nguyên nhân có thể là do phương pháp giảng dạy, truyền đạt kiến thức  
về những vấn đề nhạy cảm, tế nhị này của giáo viên còn có những hạn chế do  
nhiều nguyên nhân (Nội dung vấn đề khó trình bày cụ thể hoặc tâm lý e ngại  
của cả thầy và trò…). Nhìn chung tỷ lệ HS iết về các biện pháp tránh thai còn  
b
rất thấp Tìm hiểu kĩ hơn về nhận thức của HS về một số biện pháp tránh thaiđược coi  
làphổ biến, chúng tôiđược biết thêm:  
Phần lớn HS lúng túng, không phân biệt được biện pháp nào có hiệu quả tránh  
thai cao hay thấp, biện pháp tránh thai nào dànhcho nam hay nữ haycả hai.  
Đáng lưu ý là chỉ có một tỷ lệ rất thấp (6.4%) các em nhận thức đúng về  
các hậu quả đó. Trong đó tất cả HS đều cho rằng nạo phá thai ở tuổi VTN với  
việc “mắc các bệnh phụ khoa” là không liên quan gì đến nhau cả  
Thực trạng trên là một vấn đề đáng lưu tâm, đặt ra nhiệm vụ trọng tâm  
cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục giúp HS nhận thức đầy đủ  
hơn, toàn diện hơn về vấn đề này.  
Sự hiểu  
thêm chúng tôi  
b
b
iết của HS B L T Q Đ T D còn nhiều hạn chế. Khi trò chuyện  
iết được: các em mới dừng lại ở mức độ biết tên một số bệnh,  
còn triệu chứng, tác hại, cơ chế lây lan chưa hiểu thấu đáo (chỉ có 20.8% HS  
khẳng định: “sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục là có khả năng phòng  
9

Tải về để xem bản đầy đủ

doc 26 trang huongnguyen 05/01/2025 8470
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh Trung học cơ sở", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_nham_nang_cao_chat_luong_giao_duc_suc.doc