SKKN Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh

Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong việc dạy và học Ngoại ngữ, tôi thấy các thầy cô cần khai thác nhiều hơn nữa kho học liệu sẵn có trên mạng internet để đưa vào bài dạy của mình nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và chất lượng học tập của học sinh. Trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi mạnh dạn đề xuất một số công cụ trực tuyến hữu hiệu mà các thầy cô có thể khai thác để thiết kế các hoạt động học cũng như xây dựng một bài kiểm tra có chất lượng.
Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh  
LỜI MỞ ĐẦU  
Đầu tiên cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu  
trường THCS Thái Thịnh, những người đã tạo điều kiện để tôi nghiên cứu và  
thử nghiệm đề tài của mình.  
Xin chân thành cám ơn các anh/chị/em đồng nghiệp, đặc biệt các đồng chí  
giáo viên trong tổ Ngoại ngữ của trường THCS Thái Thịnh và các em học sinh  
đã giúp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài.  
Đây là sáng kiến kinh nghiệm bắt nguồn và đúc kết từ thực tế giảng dạy  
của tôi trong 15 năm qua. Các nội dung được dùng để minh họa trong sáng kiến  
kinh nghiệm này đều mang lại hiệu quả đáng khích lệ trong công tác giảng dạy  
và được bạn bè đồng nghiệp đánh giá cao. Tôi rất tâm huyết với đề tài: “Ứng  
dụng công nghệ thông tin vào dạy và học Ngoại ngữ cấp THCS” và dự định  
hoàn thiện kinh nghiệm này trong những năm học tiếp theo.  
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu, nhưng đây chỉ là ý kiến  
của cá nhân nên không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy rất mong Ban giám hiệu  
và các đồng chí đồng nghiệp đóng góp ý kiến để đề tài được sớm hoàn thiện.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018  
Người viết  
Nguyễn Nguyệt Ngư  
Page 1 of 20  
Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh  
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:  
“ỨNG DỤNG MỘT SỐ CÔNG CỤ TRỰC TUYẾN VÀO VIỆC  
DẠY VÀ HỌC TIẾNG ANH”  
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI  
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta hiện nay và  
trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin trong bối cảnh toàn cầu, làm thế nào  
để có thể đi tắt, đón đầu, để con người Việt Nam có thể vươn lên tầm cao trí tuệ  
mới? – Câu trả lời chắc chắn là phải đầu tư, phát triển giáo dục, phải biết ngoại  
ngữ.  
Ngoại ngữ có một vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục  
đào tạo và trong sự phát triển của đất nước. Nói chung, không những vì biết  
ngoại ngữ là nhu cầu tất yếu của lao động có kĩ thuật cao nhằm đáp ứng các quy  
trình công nghệ thường xuyên được đổi mới, mà biết ngoại ngữ còn là một năng  
lực cần thiết với người Việt Nam hiện đại.  
Để có thể tiếp cận được tri thức thế giới, trước hết là phải giỏi ngoại ngữ  
nhằm nuôi dưỡng hiểu biết ngang tầm thời đại. Mỗi người cần phải thông thạo ít  
nhất một ngoại ngữ, thành thạo chứ không phải biết sơ sài chủ yếu chỉ nhằm ở  
ứng phó, lấy điểm trung bình để “qua ải” các kì thi của Việt Nam.  
Hướng tới thế giới tri thức hiện nay, chúng ta có một phương tiện hữu  
hiệu vô song: Internet. Việc mở rộng công cụ internet, công nghệ thông tin là  
khâu quyết định cho việc cập nhật tri thức mới mẻ, hiện đại. Trong hệ thống  
kiến thức, kỹ năng và thái độ cần hình thành và phát triển vốn hiểu biết cho mọi  
người, ngoại ngữ có một vị trí vô cùng quan trọng, ngoại ngữ không chỉ là công  
cụ hữu hiệu trong tay người lao động trong việc khai thác thông tin, tiếp thu  
thành tựu khoa học kĩ thuật cao và học hỏi kinh nghiệm tốt của các nước trên thế  
giới về lĩnh vực chuyên ngành của mình mà còn là phương tiện hữu ích cho việc  
nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần cho con người. Nắm được  
ngoại ngữ, con người có thể hiểu biết sâu sắc hơn nữa về nền văn minh thế giới,  
mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu và phát triển tiềm năng của chính mình.  
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin kéo theo hàng loạt những ứng dụng  
của nó vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó không thể không kể đến  
giáo dục đào tạo. Đối với môn Tiếng Anh, việc ứng dụng Công nghệ thông tin  
(CNTT) trong giảng dạy đóng vai trò rất quan trọng vào sự thành công của quá  
trình dạy và học. Hiện nay, việc áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy cho  
học sinh thể hiện rõ nét nhất qua các “bài giảng điện tử”. Việc ứng dụng CNTT  
Page 2 of 20  
Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh  
trong dạy và học Tiếng Anh giúp giáo viên có cơ hội rèn luyện kỹ năng nghe,  
nói, khả năng diễn đạt Tiếng Anh, khắc phục những hạn chế về ngữ âm, trọng  
âm, ngữ điệu và là động lực để giáo viên cố gắng vươn lên. Khi ứng dụng CNTT  
trong giảng dạy làm cho bài giảng của giáo viên luôn uyển chuyển, linh hoạt,  
thúc đẩy sự tương tác giữa người dạy và người học. CNTT trong đó có máy tính  
nối mạng Internet là kho dữ liệu khổng lồ phục vụ cho việc giảng dạy, giúp giáo  
viên và học sinh chia sẻ thông tin, tăng thời gian tự học, tự giải quyết vấn đề  
(nếu thấy còn vướng mắc trong việc dạy và học).  
II. MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
1. Mục đích nghiên cứu  
Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong việc dạy  
và học Ngoại ngữ, tôi thấy các thầy cô cần khai thác nhiều hơn nữa kho học liệu  
sẵn có trên mạng internet để đưa vào bài dạy của mình nhằm nâng cao hiệu quả  
giảng dạy và chất lượng học tập của học sinh. Trong sáng kiến kinh nghiệm này,  
tôi mạnh dạn đề xuất một số công cụ trực tuyến hữu hiệu mà các thầy cô có thể  
khai thác để thiết kế các hoạt động học cũng như xây dựng một bài kiểm tra có  
chất lượng.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp quan sát: Là phương pháp thu thập thông tin bằng cách tri giác  
trực tiếp.  
Phương pháp tổng hợp tài liệu: Là phương pháp tìm hiểu những sáng kiến kinh  
nghiệm khác, những bài viết có liên quan đến việc ứng dụng CNTT vào dạy học  
Ngoại Ngữ.  
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Là phương pháp kết hợp lí luận với thực  
tiễn tại trường, đem lý luận phân tích kinh nghiệm của thực tiễn rồi từ những  
phân tích đó rút ra kết luận những bài học thành công và thất bại, những phát  
hiện mới và phát triển để hoàn thiện.  
III. ĐÔI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN  
1. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 7A3, 7A6, 8G, 9D, 9E trường THCS  
Thái Thịnh.  
2. Phạm vi nghiên cứu: Áp dụng cho việc ôn luyện, củng cố kiến thức từ vựng,  
ngữ pháp, kĩ năng (Nói-Nghe-Đọc-Viết) cho các lớp 6, 7, 8, 9.  
3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2018 đến tháng 3/2019.  
Page 3 of 20  
Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh  
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÁC CÔNG CỤ  
TRỰC TUYẾN VÀO VIỆC DẠY HỌC TIẾNG ANH  
I. Cơ sở lý luận  
Học ngoại ngữ là một quá trình tiếp nhận, bắt chước, sử dụng máy móc và  
hình thành kĩ năng kĩ xảo. Do vậy, giai đoạn tiếp nhận kiến thức đóng vai trò  
cực kì quan trọng trong toàn bộ quá trình học. Nếu học sinh có cách tiếp nhận  
đúng, phù hợp với khả năng của mình, các em sẽ ghi nhớ rất nhanh và có thể sử  
dụng linh hoạt ở các giai đoạn tiếp theo.  
Theo Howard Earl Gardner, nhà tâm lí học giáo dục người Mỹ, có 8 loại  
hình trí thông minh:  
Thông minh về mặt ngôn ngữ (Word smart): Là trí thông minh bằng lời  
nói và ngôn ngữ, kể cả nói và viết. Sở hữu loại hình này, học sinh có khả năng  
truyền tải suy nghĩ và cảm xúc phong phú hơn, thuyết phục hơn. Và “Những  
người sở hữu trí thông minh ngôn ngữ cũng học ngoại ngữ dễ dàng hơn.”  
Thông minh về logic – toán học (Logic smart): Đây là vùng phải làm việc  
với logic, trừu tượng, lập luận và những con số, giúp học sinh hình thành lối tư  
duy rõ ràng, khoa học cùng óc phân tích, suy luận đáng nể.  
Trí thông minh thiên nhiên (Nature smart): Bao gồm cả khả năng quan sát  
sâu sắc, sự hiểu biết và yêu thích đối với thế giới tự nhiên. Cũng giống với  
tương tác giao tiếp, trí thông minh tự nhiên khiến học sinh nhận được năng  
lượng thông qua tương tác cùng thế giới.  
Trí thông minh vận động (Body smart): Đây là vùng dành cho những chuyển  
động cơ thể. Những học sinh có ưu thế này thường thể hiện sự nổi trội trong các  
hoạt động thể chất đòi hỏi sự nhanh nhẹn, khéo léo, nhạy bén như các môn thể  
thao, diễn xuất hay làm đồ thủ công.  
Trí thông minh âm nhạc (Music smart): Đây là vùng trí tuệ phải làm với  
các giai điệu, âm nhạc và thính giác. Dễ dàng nhận thấy những học sinh có năng  
khiếu về ca hát, chơi nhạc cụ, sáng tác sở hữu trí thông minh này. Mọi thứ có  
liên quan đến giai điệu và thính giác đều có thể khơi gợi sự hứng thú và nâng  
cao khả năng tiếp thu ở học sinh. Vì thế, truyền đạt một kiến thức nào đó thông  
qua âm nhạc để tận dụng trí thông minh này cũng là một hướng đi rất đúng đắn.  
Trí thông minh giao tiếp (People smart): Đây là khu vực phải làm việc với  
sự tương tác giữa người với người, đặc trưng thường thấy ở những người hướng  
Page 4 of 20  
Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh  
ngoại. Khả năng này khiến trẻ dễ dàng kết bạn, mau chóng hòa nhập trong môi  
trường mới và tiếp nhận năng lượng tích cực thông qua tương tác với bên ngoài.  
Trí thông minh nội tâm (Self smart): Đây là vùng phải làm việc hướng nội  
và phản chiếu năng lực của chính chủ thể. Trí thông minh này giúp học sinh hiểu  
được bản thân, bao gồm ưu điểm và nhược điểm, khả năng và mong muốn của  
mình. Nắm được điều này, cha mẹ hoàn toàn có thể chủ động đồng hành cùng  
con lựa chọn những phương thức phát triển phù hợp.  
Trí thông minh không gian - thị giác (Picture smart): Đây là vùng phải  
làm việc với những tầm nhìn và phán đoán không gian. Điều này giúp học sinh  
tương tác tốt hơn với thế giới bên ngoài và trau dồi sự nhận thức. Khả năng về  
thị giác, phương hướng nhạy bén hơn so với mặt bằng chung cũng khiến học  
sinh sở hữu trí thông minh này có khuynh hướng nghệ thuật phong phú.  
Trong một lớp học, mỗi học sinh có một loại hình thông minh khác nhau. Có em  
thông minh về mặt ngôn ngữ, em khác thông minh về vận động, hoặc về không  
gian – thị giác. Vậy làm thế nào để cùng một vấn đề kiến thức, với năng lực của  
học sinh khác nhau mà các em vẫn có thể tiếp thu và ghi nhớ bài như nhau? Chỉ  
có thể kiến thức đó được tiếp cận dưới nhiều loại hình như: hình ảnh, âm thanh,  
vận động, giao tiếp, âm nhạc … Nếu một tiết học chỉ đơn thuần chỉ có sách giáo  
khoa, phấn và bảng thì không thể giúp phần lớn học sinh ghi nhớ được bài.  
Trong khi các công cụ dạy học tiếng Anh trực tuyến có thể đáp ứng được phần  
lớn vấn đề này.  
Hầu hết tất cả các công cụ trực tuyến được ứng dụng trong việc giảng dạy  
tiếng Anh đều có hình ảnh, màu sắc đẹp, âm thanh sống động. Các hoạt động  
mang tính giao tiếp cao, trong đó có cả những hoạt động yêu cầu học sinh phải  
vận động trong lớp. Chính vì những ưu điểm đó, khi khai thác những công cụ  
này vào việc dạy học, học sinh trở nên rất hứng thú với bài học. Các em ghi nhớ  
bài rất nhanh, ghi nhớ lâu hơn và khả năng vận dụng kiến thức tốt hơn.  
II. Thực trạng của việc ứng dụng các công cụ trực tuyến trong việc giảng  
dạy tiếng Anh tại trường THCS Thái Thịnh – Đống Đa – Hà Nội.  
Trong những năm gần đây, trường THCS Thái Thịnh, Đống Đa đã có  
những chuyển biến lớn lao về phong trào giảng dạy của giáo viên và phong trào  
học tập của học sinh. Rõ nét nhất là việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học  
ở nhiều bộ môn. Phong trào thiết kế bài giảng điện tử (E-learning) luôn được  
Ban giám hiệu quan tâm và khởi xướng đầu mỗi năm học. Nhà trường đều có  
nhiều giải cao cho các bài giảng E-learning hàng năm. Rõ ràng là việc ứng dụng  
CNTT vào việc giảng dạy luôn được nhà trường quan tâm hàng đầu nhằm nâng  
cao hiệu quả và chất lượng dạy học của thầy và trò trường THCS Thái Thịnh.  
Page 5 of 20  
Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh  
Mặc dù hầu hết các phòng học đều được trang bị máy chiếu, nhưng hệ  
thống wi-fi chưa được phổ biến rộng khắp đến từng phòng học. Giáo viên muốn  
sử dụng CNTT cho tiết học của mình chủ yếu chỉ dừng lại ở bài giảng được thiết  
kế trên Powerpoint chứ chưa trực tiếp khai thác các công cụ trực tuyến vào việc  
tìm kiếm thông tin và thiết kế các hoạt động dạy học. Do đó, phương pháp dạy  
về lí thuyết là có sự thay đổi tích cực, nhưng trên thực tế vẫn tạo sự nhàm chán  
cho người học. Đó là chưa kể một bộ phận giáo viên lâu năm, trình độ ứng dụng  
CNTT chậm, ngại thiết kế các bài giảng trên Powerpoint, dẫn đến việc mặc dù  
nhà trường có đầu tư lắp đặt máy chiếu thì việc khai thác những trang thiết bị đó  
cũng chưa thường xuyên hiệu quả.  
Riêng về bộ môn Tiếng Anh, đội ngũ giáo viên gồm nhiều thầy cô trẻ,  
trình độ chuyên môn tốt, khả năng ứng dụng và khai thác CNTT nhanh. Việc  
ứng dụng CNTT trong các giờ học Ngoại Ngữ đã giúp học sinh có thêm nhiều  
hứng thú về bộ môn. Điều này được thể hiện rõ trong các giờ học Tiếng Anh  
trên lớp, các con hăng hái phát biểu, tập trung lắng nghe, tích cực làm việc  
nhóm, thậm chí chủ động tìm hiểu thông tin về những chủ đề được học trong  
sách. Tuy nhiên, hứng thú này có thể được tăng lên gấp nhiều lần nếu như các  
thầy cô khai thác được thêm những công cụ thiết kế các hoạt động học trên  
internet.  
CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ  
A. KHẢO SÁT HỨNG THÚ HỌC SINH ĐẦU NĂM HỌC 2018 – 2019  
Thực tế cho thấy, học lực cũng ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh.  
Các em có học lực khá giỏi thường rất yêu thích môn học. Ngược lại, các em có  
học lực yếu kém thường không yêu thích, thậm chí là ghét và sợ môn học đó.  
Chính vì vậy, trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi có đưa kết quả học tập môn  
tiếng Anh của năm học 2017 – 2018, và kết quả khảo sát hứng thú đối với môn  
tiếng Anh đầu năm học 2018 – 2019.  
I. Kết quả học lực môn tiếng Anh năm học 2017 – 2018  
Lớp  
Sĩ số  
Giỏi  
(%)  
11,7  
9,4  
Khá  
(%)  
27,5  
37,7  
33,3  
24  
Trung  
bình (%)  
35,2  
Yếu  
(%)  
23,5  
30  
Kém  
(%)  
2,1  
2,1  
0
6A3  
51  
53  
55  
50  
54  
6A6  
7G  
8D  
8E  
20,8  
55,5  
8
11,2  
0
46  
22  
0
20,4  
46,3  
22,2  
11,1  
0
Page 6 of 20  
Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh  
Tổng:  
263  
II. Khảo sát hứng thú học môn tiếng Anh đầu năm học 2018 – 2019  
Lớp  
Sĩ số  
Rất  
thích  
(%)  
10  
Thích  
(%)  
Hơi  
thích  
(%)  
20  
Bình  
thường  
(%)  
22  
Không  
thích  
(%)  
18  
7A3  
50  
53  
30  
23  
28  
20  
31  
7A6  
8G  
13  
23  
25  
16  
54  
40  
19  
13  
0
9D  
50  
10  
18  
30  
22  
9E  
54  
11  
13  
22,5  
22,5  
Tổng:  
261  
B. GIỚI THIỆU MỘT SỐ CÔNG CỤ TRỰC TUYẾN HỮU ÍCH CHO  
VIỆC THIẾT KẾ BÀI GIẢNG  
1. Giới thiệu về công cụ  
Kahoot! là một công cụ học tập dựa trên nền tảng trò chơi, được áp dụng  
trong công nghệ giáo dục tại các trường học. Trò chơi được sử dụng ở đây là  
những câu hỏi trắc nghiệm, không chỉ là những câu hỏi lý thuyết đơn thuần,  
người dùng có thể tích hợp thêm hình ảnh và video vào bài.  
Bản chất của Kahoot! là một website, vì thế, người học có thể trả lời  
những câu hỏi thông qua trình duyệt web trên mọi thiết bị có kết nối internet.  
Kahoot! được sử dụng trong hệ thống lớp học tương tác, và câu hỏi sẽ  
được chiếu trên một màn hình chung. Tất cả người chơi sẽ sử dụng thiết bị của  
họ (điện thoại thông minh, laptop, PC ...) để trả lời các câu hỏi do giáo viên đưa  
ra. Những câu hỏi này có thể được tính điểm, và người chơi trả lời nhanh nhất sẽ  
được cộng điểm thưởng. Điểm sau đó sẽ hiển thị trên bảng thành tích sau mỗi  
câu hỏi.  
Ưu điểm của Kahoot!  
• Có phiên bản miễn phí;  
• Dễ sử dụng;  
• Có sự tương tác cao giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với  
học sinh;  
• Gây hứng thú cho người học;  
• Có thể lưu giữ các bài giáo viên đã soạn và chia sẻ với nhiều người  
khác.  
Nhược điểm của Kahoot!  
Page 7 of 20  
Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh  
• Lớp học cần có kết nối internet;  
• Học sinh phải có các thiết bị cá nhân như điện thoại thông minh  
hoặc máy tính bảng.  
2. Cách khai thác tài liệu sẵn có trên Kahoot!  
- Đăng kí theo hướng dẫn, sau đó đăng nhập.  
- Sau khi đăng nhập, giao diện dưới đây sẽ hiện ra.  
- Mục Discover cho phép người dùng tiếp cận nhiều bài câu hỏi trắc nghiệm liên  
quan đến rất nhiều chủ đề trong bài học.  
VD: English 9 – Unit 10 (Space travel), giáo viên có thể sử dụng luôn những câu  
hỏi trắc nghiệm liên quan đến chủ đề (như trong phần đánh dấu trên) để học sinh  
có cơ hội tìm hiểu thêm về các hành tinh trong hệ mặt trời.  
3. Cách tạo bài câu hỏi trắc nghiệm trên Kahoot!  
- Chọn tab Kahoots trên thanh công cụ.  
- Chọn Create new  
Page 8 of 20  
Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh  
- Giao diện sau sẽ hiện ra:  
Chọn Quiz để tạo các câu hỏi trắc nghiệm; Jumble để tạo các câu hỏi kéo thả  
đáp án; Survey để thu thập ý kiến người chơi.  
4. Ví dụ về cách tạo câu hỏi trắc nghiệm trên công cụ Kahoot!  
- Chọn Quiz. Nhấn Create new  
Trang hiện ra có giao diện như bên dưới. Viết tên tiêu đề và mô tả tiêu đề. Sau  
đó nhấn OK, go.  
Giao diện sau hiện ra:  
Page 9 of 20  
Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh  
- Nhấn vào Add question.  
1
3
2
5
4
1: Nhập nội dung câu hỏi  
2: Chọn thời gian giới hạn cho mỗi câu hỏi  
3: Chọn Yes nếu có điểm thưởng cho mỗi câu trả lời đúng  
4: Nhập nội dung các đáp án  
5: Chọn nếu đó là đáp án đúng  
- Nhấn Next để nhập câu hỏi tiếp theo. Sau đó chọn Save để lưu lại phần câu hỏi  
vừa thiết kế.  
Cho phép chỉnh sửa nội dung vừa tạo.  
Xem trước nội dung vừa tạo.  
Page 10 of 20  

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 20 trang huongnguyen 18/12/2024 13490
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "SKKN Ứng dụng một số công cụ trực tuyến vào việc dạy và học tiếng Anh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_ung_dung_mot_so_cong_cu_truc_tuyen_vao_viec_day_va_hoc.pdf