SKKN Rèn kĩ năng phân tích và viết đoạn văn phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm cho học sinh Lớp 9

Nhan đề, một yếu tố cận văn bản (cùng với tiêu đề các chương, các lời tựa, bạt, lời đề từ, các lời bình luận in trên bìa sách, các ghi chú của người viết...) do tác giả đặt (hoặc bạn hữu/biên tập viên sành sỏi nào đó gợi ý), nhìn chung đều có dụng ý tư tưởng, thậm chí nó còn có chức năng định hướng cách đọc, sự tiếp nhận của độc giả đối với phần chính văn. Nhan đề như một một mã của thông điệp thẩm mỹ, một mô hình nghệ thuật, nó là cái biểu nghĩa của văn bản văn học, cho độc giả biết trước: văn bản này viết về cái gì, có thể đọc nó hoặc nên đọc văn bản như thế nào.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI  
--------------------------------------  
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM  
RÈN KĨ NĂNG PHÂN TÍCH VÀ VIẾT ĐOẠN VĂN  
PHÂN TÍCH Ý NGHĨA NHAN ĐỀ TÁC PHẨM  
CHO HỌC SINH LỚP 9  
Lĩnh vực/ Môn:  
Cấp học:  
Ngữ văn  
THCS  
Tên tác giả:  
Đơn vị công tác:  
Chức vụ:  
Lê Hoài Quân  
Trường THCS Thái Thịnh  
Giáo viên  
MỤC LỤC  
1.  
2.  
3.  
I. Lý do chọn đề tài.  
Trang 1  
Trang 2  
Trang 4  
Trang 4  
II. Cơ sở lý luận và thực tiễn.  
III. Các giải pháp:  
1. Những yếu tố cần thiết khi phân tích ý nghĩa  
nhan đề của một tác phẩm  
2. Những câu hỏi liên quan đến ý nghĩa nhan đề  
3. Dàn ý của một đoạn văn phân tích ý nghĩa nhan  
đề  
Trang 4  
Trang 5  
4. Hệ thống nội dung cơ bản của những ý nghĩa  
nhan đề  
Trang 7  
4.  
5.  
6.  
7.  
IV. Kết quả.  
Trang 13  
Trang 14  
Trang 14  
Trang 15  
V. So sánh và đối chiếu.  
VI. Đề xuất – kiến nghị.  
VII. Tài liệu tham khảo.  
Phụ lục: Một vài ví dụ cụ thể về đoạn văn phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm.  
I.  
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI  
Trong các tiết học văn bản, trước mỗi một tác phẩm văn chương, các em  
học sinh thường chú trọng đến việc phân tích nội dung tác phẩm, phân tích nhân  
vật hoặc phân tích những đặc sắc nghệ thuật mà thường quên đi một bộ phận vô cùng  
quan trọng trong cấu trúc của một tác phẩm hoàn chỉnh – đó là nhan đề tác phẩm.  
Chính vì thế khi đứng trước một câu hỏi mang nội dung “Phân tích ý nghĩa nhan đề  
của tác phẩm…” hoăc câu hỏi “Nhan đề tác phẩm…có ý nghĩa gì?” Thì đa phần các  
em học sinh bối rối không biết trả lời hoặc trả lời không đầy đủ, không thấu đáo được  
ý nghĩa nội dung của nhan đề. Hơn nữa, việc không hiểu thấu đáo nhan đề của tác  
phẩm đồng nghĩa với việc không thể hiểu và cảm thụ trọn vẹn nội dung và tư tưởng  
chủ đề của tác phẩm. Từ đó có thể dẫn đến việc không yêu thích thậm chí là chán  
ghét tác phẩm hoặc không cần để ý đến tác phẩm đó.  
Thêm vào đó, những câu hỏi về nhan đề (cấu tạo và ý nghĩa) đã từng xuất  
hiện trong các đề thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT của Sở GD-ĐT Hà Nội, những  
câu hỏi ấy chiếm từ 1 đến 2 điểm trong đề thi. Nếu học sinh không hiểu hoặc  
không có kĩ năng phân tích ý nghĩa nhan đề của một tác phẩm văn chương thì dễ  
dàng bị mất điểm khi làm bài thi, gây ảnh hưởng lớn đến kết quả của kì thi.  
Vì những lý do trên, để học sinh có cơ hội tìm hiểu thấu đáo và trọn vẹn  
một tác phẩm văn chương, và để các em ôn tập tốt hơn cho kì thi vào lớp 10  
THPT, trên cơ sở đã tích lũy được một vài kinh nghiệm cá nhân trong quá trình  
giảng dạy tác phẩm văn chương lớp 9, tôi xin mạnh dạn đưa ra những kinh nghiệm  
của mình với mong muốn được trao đổi kinh nghiệm chuyên môn với các bạn  
đồng nghiệp thông qua đề tài: “ Rèn kĩ năng phân tích và viết đoạn văn phân  
tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm văn chương cho học sinh lớp 9”.  
II.  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN  
1- Nhan đề: Còn gọi là đầu đề, là tên, là cái "tít" (title - tiếng Anh, titre -  
tiếng Pháp) chung của một văn bản, một tác phẩm. Nó như gương mặt của một  
con người; nó là cái nổi bật nhất để phân biệt tác phẩm này với tác phẩm khác.  
Nhan đề (đầu đề) thường do người viết đặt ra - như người bố, người mẹ đặt tên  
cho đứa con của mình; nhưng cũng có khi do người khác (cán bộ biên tập) đặt hộ,  
hoặc đổi tên đi cho hay, cho phù hợp với chủ đề của tác phẩm. Có những bài nói,  
bài viết không có nhan đề, nhưng khi đăng báo, toà soạn phải đặt tên cho. Vì thế,  
ở phía dưới có ghi chú: Nhan đề (tên bài, đầu đề) do toà soạn đặt. Đặt được một  
nhan đề cho một văn bản, một tác phẩm sao cho đúng, cho hay, cho độc đáo -  
không phải dễ. Nhan đề phải khái quát ở mức cao về nội dung tư tưởng của văn  
bản, của tác phẩm; phải nói cô đọng được cái "thần", cái "hồn" của tác phẩm.  
Nhan đề như thế mới hay và bản thân nó đã có sức thu hút người đọc, người xem.  
Nhiều nhà báo, nhà văn (và các tác giả khác) đã phải trăn trở, hoặc phải thay đổi  
nhiều lần cho một cái tên tác phẩm của mình.  
Nhan đề, một yếu tố cận văn bản (cùng với tiêu đề các chương, các lời tựa,  
bạt, lời đề từ, các lời bình luận in trên bìa sách, các ghi chú của người viết...) do  
tác giả đặt (hoặc bạn hữu/biên tập viên sành sỏi nào đó gợi ý), nhìn chung đều có  
dụng ý tư tưởng, thậm chí nó còn có chức năng định hướng cách đọc, sự tiếp nhận  
của độc giả đối với phần chính văn. Nhan đề như một một mã của thông điệp thẩm  
mỹ, một mô hình nghệ thuật, nó là cái biểu nghĩa của văn bản văn học, cho độc  
giả biết trước: văn bản này viết về cái gì, có thể đọc nó hoặc nên đọc văn bản như  
thế nào.  
Người xưa khẳng định: “Chỉ ra cái cốt tuỷ của toàn bài, hoặc ở đầu bài, hoặc  
ở giữa bài, hoặc ở cuối bài”. Không ít tác giả nhận thấy: “đầu đề phải nổi lên trên bề  
mặt văn bản, không có nó… không thể xây dựng được mô hình văn bản”. Quan điểm  
này, đúng với một số trường hợp. Nhà văn Đỗ Chu kể: “Bắt tay vào viết truyện ngắn,  
có truyện ban đầu đến với tôi bằng một cái tên. Hương cỏ mật, Mùa cá bột, tôi nghĩ  
ra những cái tên ấy trước, thấy hay hay, rồi liên tưởng ra nhân vật và cốt truyện”.  
Như vậy, nhan đề tương ứng với ý tưởng và dự đồ sáng tác, nó loé sáng bất chợt và  
trở thành cái tứ của truyện, thúc đẩy nhà văn kiếm tìm, suy ngẫm liên tưởng, chi phối  
mạnh mẽ đến việc tổ chức thế giới nghệ thuật. Nhan đề là cái ý tưởng, ý tứ ban đầu  
thôi thúc nhà văn cầm bút. Lưu Hi Tải tổng kết: Nếu hình thành ý tứ trước khi viết,  
tác giả sẽ viết nhàn nhã. Nếu cầm bút viết, rồi ý mới nảy sinh, thì chân tay lúng túng”  
(Nghệ khái văn khái). (Theo Đào Ngọc Đệ, Nhan đề, tựa đề, tiêu đề, Lao động cuối  
tuàn số 32, ngày 19/8/2007)  
Phạm Tiến Duật đánh giá cao lao động sáng tạo của nhà văn ngay từ nhan  
đề. Theo ông, người nghệ sĩ có ba cách đặt đầu đề cho tác phẩm của mình: Cách  
thứ nhất là không đặt gì cả, tức là tác giả khước từ hoàn toàn việc giới thiệu với  
người đọc tác phẩm của mình: ở loại này tác giả thường viết lên đầu đề hai chữ  
vô đề. Cách thứ hai: đặt đầu đề mà như không đặt. Cách thứ ba: đặt đầu đề gợi ý,  
gợi tình, gợi cảm, gợi cảnh. Như thế, phương pháp đặt nhan đề gần giống với cách  
cấu tứ: phú, tỉ, hứng. Một “bài thơ hay”, “bài thơ lớn” ngoài nội dung cụ thể của  
nó đem lại, thì nhan đề cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo ra tầm vóc tư  
tưởng của bài thơ. “Dù đặt thế nào thì đặt đầu đề của tác phẩm văn học phải thống  
nhất biện chứng với nội dung tác phẩm”,“thống nhất trong âm dương, trong phức  
điệu”. Nhà thơ Phạm Tiến Duật tỏ ra không ưa kiểu “treo đầu dê bán thịt chó”,  
càng không bằng lòng với kiểu tạo ra một cái nhan đề quá nghèo nàn về tư tưởng.  
Nhan đề sẽ “vô duyên” nếu như “nó không bổ sung cho tác phẩm được gì”. Cần  
phải có “nghệ thuật” đặt nhan đề: “Nếu dưới bài là chật thì đầu đề phải rộng;  
dưới bài quá lạnh thì đầu đề phải nóng. Cái tứ của bài là giả thì tác phẩm chỉ có  
thể cứu lại bằng cái tình thật chứa trên đầu bài” (Phạm Tiến Duật, Vừa làm vừa  
nghĩ, Nxb. Văn học, 2003).  
Mỗitác giả có cách đặt nhan đề khác nhau, theo hứng thú thẩm mỹ riêng:Người  
thích dài, người thích cộc, kẻ thích gây ấn tượng, người thích giấu ý đồ... Phạm Tiến  
Duật định ra cái tiêu đề cũng có vẻ thừa: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Theo tôi,  
dấu hiệu của sự sáng tạo, mỹ cảm độc đáo của thi nhân có quan hệ chặt chẽ với cái  
yếu tố thừa đó. Nguyễn Công Hoan thường đặt nhan đề có ý nghĩa mỉa mai, đánh dấu,  
hoặc ngầm thông báo một tình huống nhân sinh (thường là phi lí, nghịch lí) ở đời, cho  
thấy lập trường đạo đức của nhà văn…(Theo Thùy Dương, Nhan đề tác phẩm văn  
chương-một khía cạnh sáng tạo thú vị)  
2- Như vậy, nhan đề của một tác phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng với tác  
phẩm ấy. Trong thực tế, chương trình Ngữ văn 9, hầu hết các tác phẩm văn chương  
đều có những nhan đề rất hay và giàu ý nghĩa. Tìm hiểu và phân tích cụ thể, rõ ràng  
các nhan đề này góp phần giúp học sinh có được cái nhìn toàn diện và thấu đáo đến  
nội dung tác phẩm. Giáo viên định hướng cho học sinh kĩ năng phân tích và cảm thụ  
ý nghĩa nhan đề trong tổng thể tác phẩm vừa giúp các em hiểu tác phẩm hơn, phục  
vụ tốt hơn cho nhiệm vụ học tập đồng thời đây cũng là một mảng nội dung quan  
trọng trong việc học và ôn thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ Văn.  
3. Phạm vi nghiên cứu:  
Nhan đề của các tác phẩm văn xuôi và tác phẩm thơ hiện đại trong chương trình  
Ngữ Văn 9.  
Nhan đề thơ:  
- Đồng chí (Chính Hữu).  
- Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật).  
- Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận).  
- Bếp lửa (Bằng Việt).  
- Ánh trăng (Nguyễn Duy).  
- Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải).  
- Viếng lăng Bác (Viễn Phương).  
- Nói với con (Y Phương).  
- Sang thu (Hữu Thỉnh).  
Nhan đề văn xuôi:  
- Làng (Kim Lân).  
- Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng).  
- Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long).  
- Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê).  
III. CÁC GIẢI PHÁP.  
1. Những yếu tố cần thiết khi phân tích ý nghĩa nhan đề của một tác phẩm.  
Nhan đề của một tác phẩm dù ngắn hay dài thì cũng đều được cấu tạo bằng  
ngôn từ. Mà ngôn từ trong tác phẩm văn chương thì luôn được xem xét trên các  
phương diện cấu tạo, nghĩa đen và nghĩa bóng.  
Hơn nữa, như đã trình bày ở trên, nhan đề thường mang ý khái quát, góp  
phần thể hiện tư tưởng chủ đề của toàn bộ tác phẩm. Vậy nên, khi phân tích ý  
nghĩa nhan đề, cuối cùng đều phải chỉ ra được nhan đề ấy đã góp phần thể hiện tư  
tưởng chủ đề của tác phẩm như thế nào.  
Vì thế, các yếu tố làm nên một nhan đề tác phẩm là:  
- Cấu tạo ngôn từ.  
- Nghĩa đen của từ ngữ.  
- Nghĩa bóng/ nghĩa biểu tượng/ hình ảnh ẩn dụ thông qua nghĩa đen.  
- Tư tưởng chủ để toát ra từ nhan đề đó.  
Trên cơ sở những nội dung trên, tùy thuộc vào khả năng diễn đạt của mình,  
học sinh có thể trình bày lần lượt từng ý.  
2. Những kiểu câu hỏi liên quan đến ý nghĩa nhan đề.  
Có nhiều cách hỏi khác nhau về ý nghĩa nhan đề, đơn giản nhất và cũng  
phổ biến nhất là dạng câu hỏi: “Phân tích ý nghĩa nhan đề…?”; “Nhan đề tác  
phẩm… có ý nghĩa như thế nào?”… với những dạng câu hỏi như trên, về bản chất  
là giống nhau, chỉ khác nhau về cách diễn đạt, thế nên học sinh chỉ cần bám vào  
các yếu tố làm nên một nhan đề tác phẩm để trình bày lần lượt các ý cần thiết.  
Tuy nhiên, cũng có những cách hỏi khác đi về ý nghĩa nhan đề. Thường là  
những câu hỏi dạng đối chiếu, so sánh theo kiểu: “tại sao lại đặt tên là… mà trong  
khi đó lại…”. Tiêu biểu cho kiểu câu hỏi này là hỏi về nhan đề tác phẩm Làng  
(của Kim Lân) và tác phẩm Ánh trăng (của Nguyễn Duy). Ví dụ:  
- Trong tác phẩm của mình, Kim Lân kể về ông Hai với câu chuyện xoay  
quanh làng Chợ Dầu, tại sao tác giả không đặt tên cho tác phẩm của mình  
là “Làng Dầu” hay là “Làng chợ Dầu” mà lại chỉ đặt tên là “Làng”?  
- Trong bài thơ “Ánh trăng”,tại sao từ đầu bài thơ, Nguyễn Duy thường sử  
dụng hình ảnh “vầng trăng” nhưng đến dòng thơ cuối và nhan đề của tác  
phẩm Nguyễn Duy lại viết là “ánh trăng”?  
Dù là hỏi theo những kiểu nào đi chăng nữa thì bản chất của vấn đề vẫn không  
thay đổi. Và khi trình bày nội dung về ý nghĩa nhan đề thì luôn phải đảm bảo đầy  
đủ những yếu tố góp phần tạo nên một ý nghĩa nhan đề như đã nêu ở trên.  
3. Dàn ý của một đoạn văn phân tích ý nghĩa nhan đề.  
a. Mở đoạn:  
Khẳng định khái quát ý nghĩa, vai trò của ý nghĩa nhan đề trong văn bản.  
Lưu ý, trong câu mở đoạn bắt buộc phải có thông tin tên tác phẩm và tác giả.  
Ví dụ:  
- Nhà thơ Chính Hữu đã đặt tên cho tác phẩm của mình là “Đồng chí” thật  
hay và giàu ý nghĩa.  
b. Thân đoạn:  
Triển khai cụ thể nội dung của các yếu tố tạo nên ý nghĩa nhan đề theo trình tự:  
1. Cấu tạo:  
Các nhan đề thường được cấu tạo bằng một từ hoặc một cụm từ. Khi phân  
tích cấu tạo nhan đề cần chú ý:  
- Những phép tu từ được thể hiện trong nhan đề.  
Ví dụ như phép đảo ngữ trong nhan đề “Sang thu” hoặc “Lặng lẽ Sa  
Pa” .  
- Hoặc chú ý nhấn mạnh đến đặc điểm dài hay ngắn của nhan đề vì đặc điểm  
này cũng là một dụng ý nghệ thuật quan trọng mà tác giả gửi gắm trong đó.  
Ví dụ những tác phẩm có nhan đề rất ngắn như “Làng”, “Đồng chí”  
hoặc nhan đề dài như “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.  
- Cấu tạo từ loại của nhan đề.  
Ví dụ: nhan đề “Mùa xuân nho nhỏ”: danh từ “mùa xuân” kết hợp với  
tính từ “nho nhỏ”.  
2. Giải thích nghĩa đen của nhan đề:  
Cần giải thích cụ thể, chính xác nghĩa đầu tiên được hiểu theo một cách  
thông thường và đơn giản nhất của nhan đề. Bất cứ nhan đề của tác phẩm  
nào ban đầu cũng được hiểu theo nghĩa đen. Và cũng có một số lượng  
không nhỏ nhan đề các bài thơ chỉ cần phân tích nghĩa đen (Nói với con,  
Viếng lăng Bác, Sang thu)  
Ví dụ:  
- “Chiếc lược ngà”: là món quà ông Sáu đã tỉ mỉ làm để tặng cho bé Thu, là  
món quà đầu tiên và cùng là món quà cuối cùng.  
- “Làng”: là một đơn vị hành chính ở nông thôn.  
- “Đồng chí”: “Đồng” có nghĩa là cùng; “chí” có nghĩa là chí hướng. Đồng  
chí có nghĩa là chung chí hướng, cùng lí tưởng.  
3. Giải thích nghĩa bóng và phân tích ý nghĩa hình tượng:  
Có nghĩa là giải thích những nghĩa bóng bảy, trừu tượng được suy từ  
nghĩa đen mà ra.  
Ví dụ:  
- “Chiếc lược ngà”: đã trở thành biểu tượng bất diệt cho tình cảm cha con  
trong hoàn cảnh éo le của cuộc chiến đấu.  
- “Những ngôi sao xa xôi”: là hình ảnh, biểu tượng cho vẻ đẹp của những  
cô gái thanh niên xung phong…  
Tuy nhiên cũng có không ít tác phẩm mà nhan đề của nó không cần hoặc không  
có nghĩa bóng, nghĩa biểu tượng (ví dụ: Viếng lăng Bác, Nói với con…)  
4. Nêu và khẳng định ý nghĩa nhan đề góp phần quan trọng trong việc  
thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm:  
Để thể hiện được nội dung này, học sinh cần phải hiểu thấu đáo toàn bộ  
nội dung và tư tưởng chủ đề mà nhà văn muốn gửi gắm trong tác phẩm.  
Nội dung này đã được cô đúc một cách ngắn gọn và chính xác chuẩn  
mực trong phần ghi nhớ của sách giáo khoa sau phần đọc hiểu của mỗi  
văn bản. Học sinh cần phải ghi nhớ nội dung này.  
c. Kết đoạn:  
Khẳng định lại ý nghĩa và vai trò của ý nghĩa nhan đề  
4. Hệ thống nội dung cơ bản của những ý nghĩa nhan đề  
TƯ TƯỞNG  
CHỦ ĐỀ  
TÁC PHẨM CẤU TẠO  
NGHĨA ĐEN  
NGHĨA BÓNG  
1.Đồng chí. - Ngắn gọn. - Đồng: cùng.  
-Khẳng định sức  
mạnh và vẻ đẹp  
tinh thần của  
người lính Cụ Hồ  
(Chính Hữu)  
- Chỉ bằng - Chí: chí hướng, lý  
một danh từ tưởng  
→là những người  
chung chí hướng,  
chung lý tưởng.  
Những người cùng  
trong một tổ chức  
chính trị, xã hội  
thường gọi nhau là  
đồng chí.  
X
–
những con  
người cùng chung  
cảnh ngộ,chung  
chí  
hướng,lý  
tưởng, gắn bó keo  
sơn trong chiến  
đấu gian khổ thời  
kì chống Pháp.  
3. Bếp lửa - Ngắn gọn. - Là hình ảnh gần Bếp lửa vốn là -Qua hình ảnh  
(Bằng Việt)  
- Chỉ bằng gũi, quen thuộc một hình ảnh bếp lửa, Bài thơ  
một danh từ trong mỗi gia đình quen thuộc trong đã gợi lại những  
Việt Nam.  
mỗi gia đinh kỉ niệm đầy xúc  
- Là cái bếp lửa bà người Việt Nam động về người bà  
vẫn nhóm lên mỗi đã trở thành hình và tình bà cháu,  
sớm.  
ảnh tượng trưng đồng thời thể hiện  
gợi kỉ niệm ấm lòng kính yêu trân  
áp của tình bà trọng và biết ơn  
cháu.  
của người cháu  
- Bếp lửa là nơi đối với bà và  
bà nhóm lên tình cũng là đối với  
cảm khát vọng gia đình, quê  
trở thành ngọn hương, đất nước.  
lửa của tình yêu,  
niềm tin.  
- Bếp lửa là kỉ  
niệm  
thiêng  
liêng nâng bước  
người cháu trên  
suốt hành trình  
dài rộng của  
cuộc đời.  
4.Đoàn thuyền - Cụm danh - Gợi hình ảnh của - Nói đến đoàn - Thể hiện sự hài  
đánh cá (Huy từ  
Cận)  
nhiều con thuyền thuyền đánh cá hòa giữa thiên  
chứ không phải là nói đến những nhiên và con  
một con thuyền đơn người dân chài người lao động,  
lẻ..  
- Là hình ảnh trung đêm hang say và tự hào của nhà  
tâm của toàn bài. lao động trên thơ trước con  
lưới đang ngày bộc lộ niềm vui  
biển.  
người và cuộc  
sống.  
5.Ánh  
trăng - Ngắn gọn. - Ánh trăng là ánh -Là biểu hiện -Là lời tự nhắc  
(Nguyễn Duy) -Bằng một sáng của vầng cho những gì nhở về những  
danh từ  
trăng. Chỉ có ánh tinh túy, đẹp đẽ năm tháng gian  
sáng mới có khả nhất của nhân lao đã qua của  
năng soi rọi và cách con người, cuộc đời người  
chiếu sáng vạn vật của cuộc sống. lính gắn bó với  
Ánh sáng ấy đã thiên nhiên đất  
len lỏi vào nước bình dị và  
những nơi khuất hiền hậu. Qua đó  
lấp trong tâm gợi nhắc và củng  
hồn con người cố ở người đọc  
để thức tỉnh họ thái độ sống ân  
nhận ra những nghĩa, thủy chung  
điều sai trái, cùng quá khứ.  
hướng  
con  
người ta đến với  
những giá trị  
đích thực của  
cuộc sống.  
- “Ánh trăng” đã  
thắp sáng lên  
một góc tối của  
con người, thức  
tỉnh sự ngủ quên  
của con người về  
nghĩa tình thủy  

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 23 trang huongnguyen 02/01/2025 6090
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "SKKN Rèn kĩ năng phân tích và viết đoạn văn phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm cho học sinh Lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_ren_ki_nang_phan_tich_va_viet_doan_van_phan_tich_y_nghi.pdf