SKKN Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS Thái Thịnh trong giai đoạn hiện nay

Tìm hiểu thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử của hiệu trưởng tại trường THCS Thái Thịnh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó và từ đó đề xuất biện pháp quản lí hoạt động giáo dục văn hóa úng xử của hiệu trưởng trường trung học cơ sở Thái Thịnh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
MỞ ĐẦU  
1. Lý do nghiên cứu  
Môi trường giáo dục là nơi đào tạo những lớp người có tri thức để phục  
vụ xã hội. Thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, là giường cột của nước nhà.  
Môi trường giáo dục lành mạnh là điều kiện tiên quyết để đào tạo thế hệ trẻ  
trở thành những công dân tốt có tài năng, đạo đức. Trường học là nơi rèn  
đức, luyện tài, trang bị kiến thức cho học sinh. Trong môi trường này, học  
sinh phải biết về trách nhiệm và nghĩa vụ của bản thân đối với thầy cô, bạn  
bè và các mối quan hệ khác.  
Vậy thực trạng văn hoá học đường ngày nay như thế nào? Phần lớn thế  
hệ trẻ trong nhà trường hiện nay có kiến thức rất rộng, nhanh nhạy trong  
nắm bắt thông tin có sức khoẻ tốt, tinh thần cầu thị trong học tập, khả năng  
ứng dụng những kiến thức học vào thực tiễn cao, quý trọng thầy cô, đoàn kết  
với bạn bè sống có kỷ cương, không ngừng phấn đấu vươn nên trong học tập  
và trong cuộc sống. Nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ thế hệ trẻ đang  
ứng xử một cách vô văn hoá. Nhà tư vấn tâm lý Phạm Thị Thuý cho rằng:  
Văn hoá ứng xử học đường Việt Nam đã ở vào cấp độ báo động đỏ. Quá  
nhiều hành vi thiếu văn hoá của cả học sinh và giáo viên. Văn hoá học  
đường đang xuống cấp nghiêm trọng, là sự xuống cấp đáng sợ nhất của một  
nền giáo dục. Hiện có rất nhiều người đồng tình với ý kiến này khi cho rằng  
văn hoá ứng xử học đường đang bị xem nhẹ. Nhà trường chỉ tập trung vào  
việc dạy kiến thức tự nhiên xã hội mà quên đi giáo dục nhân cách sống cho  
học sinh. Thực tế cho thấy trong môi trường học đường, nơi văn hoá được  
coi trọng, được xây dựng và phát huy lại đang diễn ra những điều thiếu văn  
hoá. Trong môi trường giáo dục hai mối quan hệ chính là quan hệ giữa thầy  
và trò và quan hệ giữa các trò với nhau. Trong đó mối quan hệ giữa thầy và  
trò là mối quan hệ cốt lõi nhất để xây dựng môi trường giáo dục. Theo thống  
kê của Bộ giáo dục đào tạo, từ đầu năm học 2009-2010 đến nay cả nước đã  
xảy ra hơn 1600 vụ học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường học, trong  
đó có các vụ án hình sự ngày càng gia tăng. Học sinh đánh nhau không chỉ  
dùng chân tay hay cặp sách nữa mà là những hình ảnh các học em sinh mặc  
đồng phục tuổi từ 10 đến 18 cầm dao, phớ, kiếm và cả súng tự chế hay súng  
mua chui trên thị trường để “xử nhau” chỉ vì những lí do rất trẻ con như  
“nhìn đểu”, không cho chép bài, nói xấu, ghen tuông hoặc chỉ đơn giản là  
đánh cho bõ ghét.  
Không dừng lại ở việc đánh lộn lẫn nhau học trò hiện nay yêu quá sớm,  
yêu nhiều và quan niệm yêu gắn liền với tình dục đã để lại những hậu quả  
1
khó lường. Có những bạn trẻ đứng trước nguy cơ vô sinh hoặc đã bị vô sinh  
do nạo hút thai ở tuổi dậy thì, sức khoẻ giảm sút, tâm lý tổn thương….Đã có  
rất nhiều bậc phụ huynh khi đưa con gái vào bệnh viện vì con đau bụng dữ  
dội mới tá hoả khi nhận được tin dữ con gái họ đã mang thai. Không ít  
những cô cậu đã phải làm cha, làm mẹ ở độ tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” do  
quan niệm quá thoáng về tình yêu.  
Văn hoá ứng xử giữa học trò với nhau ngày nay mang nhiều màu  
sắc biến tướng. Tình trạng kết bè, kết phái tạo thành băng, hội cũng là vấn  
đề nhức nhối nó không những làm ảnh hưởng đến môi trường giáo dục mà  
còn làm cho xã hội quan tâm lo lắng. Hiện tượng lập băng nhóm rồi đi cướp,  
trấn lột, dằn mặt lẫn nhau, thanh toán ân oán cá nhân của học trò làm gióng  
lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với các nhà làm công tác giáo dục và quản lí  
giáo dục.  
Từ trước đến nay, chúng ta vẫn nghe nhiều về đạo thầy - trò (Đạo làm  
thầy và đạo làm trò). Quan hệ thầy trò xưa kia là mối quan hệ đáng kính và  
đáng chân trọng. Người xưa có câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” nghĩa là dạy  
một chữ cũng là thầy mình mà dạy nửa chữ cũng là thầy và lấy ông thầy làm  
trung tâm, học trò nhất nhất phải nghe theo, coi thầy là tấm gương để học  
theo. Cách đây hơn hai nghìn năm Khổng Tử bàn đến mối quan hệ Quân -  
Sư - Phụ (Vua - thầy - cha)tức là học trò kính thầy như kính vua, kính cha.  
Những quan niệm coi thầy là cha còn ăn sâu tới nỗi khi thầy chết học trò để  
tang như để tang cha mẹ. Mỗi khi muốn hỏi thầy hoặc trao đổi vấn đề gì  
phải thưa gửi lễ phép đàng hoàng. Đứng trước mặt thầy phải chỉnh tề, nhã  
nhặn, gặp thầy phải cúi chào từ xa, khoanh hai tay trước ngực khi nào thầy  
trả lời mới được ngửng lên. Nhưng ngày nay học trò của chúng ta đã không  
thể làm đủ lễ nghi với thầy cô họ lại còn xuyên tạc, làm biến tướng các nghi  
lễ, thiếu sự tôn trọng với thầy cô, coi thường việc học. Ví dụ như: Cách chào  
của học trò khi gặp thầy cô, họ vừa đi thậm chí là chạy ù ù qua thầy cô vừa  
chào “cô ạ”, “thầy ạ” để tiết kiệm từ và nói cho nhanh hơn nữa học trò chào  
thầy cô (nếu là cô giáo) “Quạ! Quạ!”, (nếu là thầy) “Thạ! Thạ!” rồi cười hô  
hố rất phản cảm làm cho giáo viên chẳng thể hiểu học trò chào mình hay  
chào cái gì. Sau lưng học trò gọi thầy cô mình là ông nọ, bà kia tệ hại hơn là  
gọi bằng đại từ nhân xưng “nó”. Khi làm bài kiểm tra không tốt bị thầy cho  
điểm kém không vừa ý mình học trò sẵn sàng lôi bài kiểm tra ra xé trước  
mặt thầy cô để tỏ thái độ. Có trường hợp trò vì mâu thuẫn nhỏ, xung đột ý  
kiến hoặc bị giáo viên phạt mà quay ra thù thầy cô, tạt a-xít vào thầy cô, cả  
kể việc thuê người giết chết thầy cô mình. Nhìn lại xem đây là lối ứng xử gì?  
Những năm gần đây hiện tượng tiêu cực trong giáo dục không phải là ít.  
Ở đâu đó chúng ta còn thấy những thầy giáo không đủ tư cách làm tấm  
2
gương, những cô giáo thiếu tinh thần trách nhiệm, những học trò bàng quan  
với việc học với tương lai, cuộc đời, chúng ta có thể thấy rằng việc giáo dục  
giới trẻ hiện nay đang là vấn đề cấp thiết được cả xã hội quan tâm. Việc xây  
dựng được môi trường giáo dục mà ở đó thầy đúng nghĩa là thầy, trò đúng  
nghĩa là trò, trong môi trường giáo dục đó chỉ có tình yêu thương, sự kính  
trọng, bao dung biết ơn và hoà hiếu đó là mơ ước của tất cả mọi người.  
Nhưng đáng buồn thay thực trạng văn hoá ứng xử của thế hệ trẻ trong nhà  
trường đang xuống cấp một cách nghiêm trọng cả về đạo đức lối sống và ý  
thức sống.  
Đã đến lúc chúng ta phải thấy được sự cần thiết của việc giáo dục tư  
tưởng đạo đức và lối ứng xử có văn hoá cho thế hệ trẻ. Xây dựng một thế hệ  
trẻ có sức khoẻ, có trí lực, lòng nhiệt huyết, luôn trau dồi về lý tưởng và đạo  
đức cách mạng. Ngoài ra trong cuộc sống luôn chấp hành nghiêm chỉnh các  
chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, gương mẫu  
trong cộng đồng, làm tròn bổn phận của người công dân.  
Ở trường trung học cơ sở Thái Thịnh – quận Đống Đa – thành phố Hà Nội  
hiện nay, vấn đề văn hóa ứng xử của học sinh là tương đối tốt. Tuy nhiên  
không phải là không có những biểu hiện đáng lưu tâm từ phía các thầy cô  
giáo và học sinh trong nhà trường.  
Đề tài này trình bày về vấn đề Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng  
xử cho học sinh trường THCS Thái Thịnh trong giai đoạn hiện nay.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp nhằm  
giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS Thái Thịnh trong giai  
đoạn hiện nay.  
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu  
3.1. Khách thể nghiên cứu  
Hoạt động quản lí của hiệu trưởng trường trung học cơ sở thái Thịnh  
3.2. Đối tượng nghiên cứu  
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh  
trường THCS Thái Thịnh trong giai đoạn hiện nay  
4. Giả thuyết khoa học  
Việc giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS Thái Thịnh đã  
có một số tiến bộ tuy nhiên còn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của giáo  
dục trong giai đoạn mới. Nếu có biện pháp quản lý hạt động giáo dục văn hóa  
ứng xử tích cực và phù hợp hơn thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục  
toàn diện tại trường trung học cơ sở Thái Thịnh - quận Đống Đa.  
5. Nhiệm vụ nghiên cứu  
5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài: Khái niệm  
3
Quản lí, Quản lí giáo dục, văn hóa, văn hóa ứng xử…  
5.2. Tìm hiểu thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử và quản lý  
hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử của hiệu trưởng tại trường THCS Thái  
Thịnh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó  
và từ đó đề xuất biện pháp quản lí hoạt động giáo dục văn hóa úng xử của  
hiệu trưởng trường trung học cơ sở Thái Thịnh, quận Đống Đa, thành phố Hà  
Nội.  
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu  
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài này tập trung nghiên cứu việc  
chỉ đạo hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử của hiệu trưởng trường trung học  
cơ sở Thái Thịnh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.  
6.2. Giới hạn địa bàn và khách thể điều tra:  
* Địa bàn nghiên cứu: Trường THCS Thái Thịnh - quận Đống Đa  
* Khách thể điều tra: 57 giáo viên và 122 học sinh.  
7. Phương pháp nghiên cứu  
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận  
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, hệ  
thống hóa, khái quát hóa các tài liệu để xây dựng khung lí thuyết và các khái  
niệm công cụ làm luận cứ lí luận cho vấn đề nghiên cứu.  
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
• Phương pháp điều tra viết: Trưng cầu ý kiến của cán bộ, giáo viên và  
học sinh nhà trường, phỏng vấn chuyên gia, cha mẹ học sinh về các biện pháp  
đã làm và đề xuất các biện pháp mới.  
• Phương pháp quan sát: Trực tiếp quan sát việc giáo dục văn hóa ứng xử  
cho học sinh của các Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và cha mẹ học sinh.  
• Phỏng vấn cán bộ, giáo viên nhà trường về thực trạng việc giáo dục văn  
hóa ứng xử cho học sinh trong trườngvà hiệu quả của việc thực hiện các biện  
pháp đề xuất trong đề tài  
8. Phương pháp xử lí số liệu  
- Sử dụng thống kê như một công cụ xử lí các tài liệu (xử lí các thông tin  
định lượng như các con số , bảng số liệu… và các thông tin định tính bằng  
biểu đồ) đã thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu khác  
4
Chương 1  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ  
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO HỌC SINH  
1.1. Quản lý giáo dục  
1.1.1.Khái niệm quản lý giáo dục  
Quản lý là một khái niệm rộng. Nó bao gồm cả sự quản lý sinh học, quản  
lý kỹ thuật và quản lý xã hội. Trên cơ sở các cách tiếp cận khác nhau nên có  
nhiều cách diễn đạt khái niệm về quản lý khác nhau nhưng chúng đều có một  
điểm chung thống nhất như sau: “Quản lý là quá trình tác động có định  
hướng, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng  
quản lý để đạt được mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động.  
Chủ thể quản lý tác động bằng các chế định xã hội, tổ chức về nhân lực, tài  
lực và vật lực, phẩm chất và uy tín, chế độ chính sách, đường lối chủ trương  
trong các phương pháp quản lý và công cụ quản lý để đạt mục tiêu quản lý”.  
Quản lý giáo dục là quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Bàn về khái niệm  
này có nhiều ý kiến khác nhau, sau đây tôi xin nêu một số quan niệm cơ bản  
của các nhà khoa học.  
Trong tập bài giảng “Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục” tác giả  
Đặng Quốc Bảo có nêu: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành  
phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu  
cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triên giáo dục thường  
xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người.  
Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc  
dân. [1]  
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý giáo dục là hệ thống tác  
động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm  
cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của  
Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống  
giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. [10]  
Như vậy, có thể thấy quản lý giáo dục là quá trình tác động có định  
hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo  
dục ở từng cơ sở và toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu giáo dục đã  
định.  
1.1.2. Các chức năng của quản lý giáo dục  
“Chức năng quản lý giáo dục là một thể thống nhất giữa hoạt động tất  
yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa trong hoạt  
động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu”  
5
Có nhiều cách tiếp cận với các chức năng quản lý giáo dục, phổ biến có  
4 chức năng sau:  
+ Kế hoạch hóa:là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản  
lý, chính là khâu dự báo xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, các  
bước đi để đạt đến mục tiêu đó.  
+ Tổ chức: là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ các thành  
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện đạt kết  
quả các kế hoạch do tổ chức đạt ra.  
+ Chỉ đạo: là quá trình tập hợp các thành viên trong tổ chức trong mối  
liên hệ chỉ đạo chặt chẽ, động viên, hướng dẫn, điều chỉnh quá trình thực hiện  
nhiệm vụ nhất định của các thành viên để đạt được mục tiêu của tổ chức đặt  
ra.  
+ Kiểm tra: là một chức năng quan trọng của quản lý, lãnh đạo mà không  
kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Mục đích của kiểm tra nhằm thực hiện  
tốt nhất ba chức năng: phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích. Chức năng  
quản lý của hiệu trưởng là đo lường và điều chỉnh việc thực hiện nhằm đảm  
bảo rằng: các mục tiêu, các kế hoạch đặt ra. Để công tác quản lý đạt hiệu quả  
thì khâu kiểm tra cần được tiến hành thường xuyên và có sự kết hợp nhuần  
nhuyễn, linh hoạt.  
1.1.3. Biện pháp quản lý giáo dục  
Biện pháp quản lý giáo dục là một tổ hợp các tác động có định hướng  
của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở  
từng cơ sở và toàn bộ hệ thống giáo dục đạt đến mục tiêu giáo dục đã định.  
Đối tượng quản lý giáo dục phức tạp đòi hỏi biện pháp quản lý của chủ  
thể phải đa dạng phong phú hợp với đối tượng quản lý. Biện pháp quản lý có  
quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống các phương pháp. Hệ thống  
các biện pháp quản lý giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt các phương pháp  
quản lý và đạt được mục tiêu giáo dục của mình.  
1.2. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh  
1.2.1. Khái niệm văn hóa ứng xử  
1.2.1.1. Văn hóa  
Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa:  
Định nghĩa văn hóa của UNESSCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các  
hoạt động sảng tạo trong quả khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động  
sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các  
thị hiếu, những yếu tổ xác định đặc tính riêng của dân tộc”.  
Bàn về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đưa ra định nghĩa về văn  
hóa trong phần cuối của “ Nhật ký trong tù ” năm 1943 như sau:  
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng  
6
tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn  
giáo, văn học nghệ thuật nhằm cung cấp cho sinh hoạt về ăn, mặc và các  
phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn  
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu  
hiện của nó là loài người đã sản sinh nhằm đáp ứng những nhu cầu của cuộc  
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn ”  
Văn hóa dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu Lê Văn Quán là: ”những tri  
thức khoa học văn hóa, sự hiểu biết, trình độ học vấn, trình độ tiếp thu và vận  
dụng những kiến thức khoa học. Hệ thống kiến thức được con người sáng tạo  
và tiếp thu, tích lũy, bổ sung và luôn luôn đổi mới qua các thế hệ thông qua  
lao động, sản xuất, đấu tranh giữa con người với tự nhiên và xã hội. Qua đó  
con người tiếp xúc, giao tiếp với nhau, hình thành nên những tập tục, những  
cách đối nhân xử thế nhất định. Sự hiểu biết được sử dụng làm nền tảng và  
định hướng cho nếp sống, nếp suy nghĩ, đạo lý, tâm hồn và hoạt động của mỗi  
dân tộc đạt tới chân, thiện, mỹ trong mối quan hệ giữa con người với con  
người, giữa con người với môi trường xã hội và tự nhiên” [10; 32]  
Có thể nói văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con  
người sáng tạo, tích lũy, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong hoạt  
động sản xuất, nếp suy nghĩ, cách sống và sự tương tác giữa con người với tự  
nhiên và xã hội. Những giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong  
xã hội.. Từ những nhận định trên có thể rút ra một số nhận xét như sau:  
Thứ nhất: văn hóa bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần chứ  
không chỉ đơn thuần là văn hóa tư tưởng hay văn hóa nghệ thuật.  
Thứ hai: văn hóa là sự sáng tạo của con người hướng tới chân, thiện, mỹ.  
Do đó nó là dấu hiệu tộc loại để phân biệt con người với động vật.  
Thứ ba: nói tới văn hóa là nói tới hệ thống với chức năng tổ chức xã hội,  
tính giao tiếp với chức năng điều tiết xã hội, tính lịch sử với chức năng, tính  
nhân bản với chức năng giao tiếp.  
Thứ tư: văn hóa về bản chất là quá trình phát triển mang tính người, là  
cái đặc trưng cho một cộng đồng dân tộc.  
Từ những định nghĩa và nội dung xem xét trên ta có thể đưa ra định  
nghĩa văn hóa như sau : Văn hoá là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần  
được sáng tạo, tích luỹ trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của  
con người. Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời  
sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho thế hệ sau.  
Văn hóa đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển. Văn hoá chính là  
yếu tố then chốt trong chính sách phát triển một quốc gia, là nguồn gốc bắt rễ  
của sự phát triển. Văn hoá là nền tảng để xây dựng một đời sống tinh thần  
lành mạnh, đồng thời cũng là động lực của sự phát triển.  
7
12.1.2. Ứng xử  
Từ lâu vấn đề ứng xử của con người là một phạm trù được nhiều nhà tâm  
lí học, xã hội học, sinh học quan tâm. Khẳng định vai trò của sự ứng xử, nhà  
sư phạm người Nga Usinxki đã khẳng định “Sự khéo léo ứng xử về sư phạm  
mà nếu không có nổ thì các nhà giáo dục học dù giỏi tới mức nào cũng không  
bao giờ trở thành nhà thực hành giáo dục tốt, về bản chất không phải là cái  
gì khác là sự khéo léo đối xử”[13; 191]  
Ứng xử là một từ ghép gồm hai từ “ứng” và "xử”. Mà ứng và xử lại bao  
gồm nhiều nghĩa khác nhau: ứng phó, ứng đáp, ứng đối, ứng biến và xử sự,  
xử lý, xử thế…  
Vấn đề ứng xử đã được nhiều người sử dụng khái niệm kép: giao tiếp-  
ứng xử, trong các mối quan hệ xã hội giữa con người với tự nhiên, con người  
với xã hội, con người với gia đình và con người với chính mình.  
Ứng xử của con người, dù là đối tượng nào cũng không thể diễn ra theo  
một cách ngẫu nhiên, tùy tiện mà trước mỗi loại tình huống, con người đều  
ứng xử theo một cách nào đó sao cho phù hợp. ứng xử theo cách này, cách nọ  
là chấp nhận một cách ứng xử, là ứng xử theo những qui tắc riêng.  
+ Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người  
trước sự tác động của người khác, môi trường bên ngoài đối với mình trong  
một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói  
năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người  
với nhau, giữa con người với môi trường.  
+ Ứng xử thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà  
chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán để thể hiện qua thái độ,  
hành vi, cử chỉ, cách nói năng, ứng xử tùy thuộc vào trí nhớ, khả năng và  
nhân cách của mỗi người nhằm đạt được kết quả giao tiếp cao nhất.  
Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc  
điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách  
nói năng của cá nhân với những người chung quanh và yếu tố bên ngoài tác  
động vào con người.  
Như vậy ứng xử là phản ứng của con người trước sự tác động của con  
người hay môi trường tự nhiên trong tình huống nhất định, ửng xử là biểu  
hiện bản chất nhân cách của mỗi cá nhân thông qua thái độ, lời nói, hành vi  
trước sự tác động của các yếu tố bên ngoài.  
1.2.1.3.Văn hóa ứng xử  
Văn hóa theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các giá trị về vật chất và tinh  
thần được sinh ra, lưu giữ và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, là  
một hệ thống tổng thể của những yếu tố có quan hệ hữu cơ và mật thiết với  
nhau. Nếu ở một phương diện nhất định, người ta quan tâm đến văn hóa vật  
8
chất với những gì mang tính khách quan, thì mặt khác ở hiện tại người ta còn  
quan tâm tới một biểu hiện hết sức đáng chú ý của văn hóa, đó là ứng xử, văn  
hóa ứng xử, đó là văn hóa ứng xử của con người.  
Vì vậy trong cơ cấu hệ thống, văn hóa ứng xử là một bộ phận, quá trình  
cấu thành tổng thể của văn hóa và đến lượt nó văn hóa ứng xử lại là một hệ  
thống bao gồm những tiểu hệ thống cấu thành.  
Khi phản ứng lại những tác động khác nhau trong giao tiếp, con người  
thể hiện văn hóa của mình qua thái độ, hành vi, cách sử dụng ngôn ngữ để thu  
phục người khác.Vì vậy qua cách ứng xử, người ta có thể đánh giá người này  
có văn hóa hay không có văn hóa.  
Nếu xem văn hóa ứng xử là một hoạt động thì đó là hành vi nhằm thực  
hiện các khuôn mẫu mang tính lý tưởng kết tinh những giá trị và chuẩn mực  
mà cá nhân và cộng đồng hướng tới. Văn hóa ứng xử là một phương diện để  
thể hiện nhân cách và bản lĩnh của con người trong hoạt động thực tiễn gắn  
với trình độ văn hóa.  
Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là ngôn ngữ của cử chỉ là phương tiện  
thể hiện văn hóa của con người, nó phản ánh quá trình hoạt động tạo ra lối  
suy nghĩ của con người. Ngôn ngữ gắn liền với học vấn và tính cách của con  
người, nó cho phép chia sẻ xúc cảm, tình cảm, ý nghĩ, tư tưởng, kinh nghiệm,  
khát vọng, trí nhớ, nhu cầu, tư tưởng của con người. Thông qua ngôn ngữ con  
người có thể hiểu được sự phát triển của văn hóa cá nhân và thời đại của văn  
hóa xã hội. Vì vậy khía cạnh văn hóa ứng xử thể hiện qua cách nói, viết và  
hành động. Điều đầu tiên thể hiện một người có văn hóa ứng xử là thái độ biết  
tôn trọng bản thân và người khác (đối tượng mình giao tiếp), ứng xử có văn  
hóa thể hiện rất đa dạng như trên đã nêu, nó thể hiện bằng: tính cách, cảm  
xúc, tình cảm.. .Tóm lại ứng xử có văn hóa là ứng xử thông minh nhất đem lại  
hiệu quả nhất, thông qua việc ứng xử và bản chất ứng xử có văn hóa cần có.  
Như vậy, theo cách hiểu trên, văn hóa ứng xử chính là: “Hệ thống tinh  
tuyển những nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối  
quan hệ ứng xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua  
ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý...trong quá trình phát triển và hoàn  
thiện đời sống, đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của  
cá nhân, nhóm xã hội, toàn bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc  
trưng, bản sắc văn hóa một dân tộc, một quốc gia... được cá nhân, nhóm xã  
hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội, thừa nhận và làm theo” [7; 27].  
Còn dưới góc độ xã hội học, văn hóa ứng xử được hiểu là “hệ thống  
các khuôn mẫu ứng xử được thể hiện ở thái độ, kỹ năng ứng xử của cá nhân  
và cộng đồng người trong mối quan hệ với môi trường thiên nhiên, xã hội và  
bản thân, trên cơ sở những chuẩn mực văn hóa- xã hội nhất định để bảo tồn,  
9
phát triển của cuộc sống và cộng đồng nhằm làm cho cuộc sống của cá nhân  
và cộng đồng giàu tính người hơn ” [7; 36]  
Từ những phân tích và một số quan niệm trên có thể rút ra những điều  
chú ý cơ bản sau về văn hóa ứng xử như sau:  
- Văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nét ứng xử, khuôn mẫu  
ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người và các  
đối tượng khác thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý...trong  
quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa  
trở thành bản sắc văn hóa một dân tộc, một quốc gia...được các cá nhân, nhóm  
xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội thừa nhận và làm theo.  
- Văn hóa ứng xử là phương thức giao tiếp và sự bảo tồn mối quan hệ  
giữa con người với mọi vật xung quanh và giữa con người với con người.  
Phương thức ứng xử này đã được chọn lọc lâu đời bởi những cộng đồng  
người nhất định. Văn hóa ứng xử được hình thành từ những quan hệ đạo đức  
và thẩm mỹ của con người theo quy luật giá trị và sự hài hòa xã hội của con  
người và bao gồm những con người và sự tác động qua lại giữa những con  
người ấy với nhau và với thiên nhiên. Văn hóa ứng xử có ảnh hưởng tới các  
phản ứng của con người trước đối tượng giao tiếp và khả năng sinh tồn của  
mình. Văn hóa ứng xử gắn liền với thước đo mà xã hội dùng để ứng xử.  
- Văn hóa ứng xử chỉ thực sự có ý nghĩa, được phản ánh và trao truyền  
khi nó được cụ thể hóa qua những khuôn mẫu, hành vi, lời nói, tư duy, tâm lý,  
chuẩn mực, biểu tượng...các chủ thể hành động nhằm ứng biến, ứng phó với  
những đổi tượng khác.  
- Văn hóa ứng xử được biểu hiện dưới hai dạng:  
+ Hình thức trực tiếp: trong môi trường sống sinh hoạt (môi trường tự  
nhiên, môi trường tinh thần, tâm linh, môi trường nhóm xã hội, bản thể...) các  
môi trường này vô cùng đa dạng, phong phú thể hiện qua các mối quan hệ  
chồng chéo khác nhau.  
+ Hình thức gián tiếp: Văn hóa ứng xử biểu hiện qua sự phản ánh các  
hình thức khoa học như: triết học, tâm lý học, văn học, xã hội học...trong đó  
nổi bật là văn hóa dân gian và văn học nghệ thuật.  
- Văn hóa ứng xử có những vai trò cơ bản sau:  
Thứ nhất là: Văn hóa ứng xử góp phần phát triển con người mới. Nội  
dung xây dựng văn hóa cụ thể ở nước ta gắn trực tiếp với việc xây dựng, phát  
triển con người mới trong giai đoạn hiện nay  
Thứ hai là: Văn hóa ứng xử góp phần tích cực vào quá trình gắn kết phát  
triển văn hóa với phát triển con người. Thông qua xây dựng văn hóa ứng xử  
với thiên nhiên, xã hội và bản thân để hình thành các mối quan hệ khăng khít  
giữa phát triển văn hóa và con người.  
10  

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 66 trang huongnguyen 20/12/2024 9390
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "SKKN Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS Thái Thịnh trong giai đoạn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_quan_ly_hoat_dong_giao_duc_van_hoa_ung_xu_cho_hoc_sinh.pdf